
Lê-vi Ký 13
Lê-vi Ký 13 trình bày những luật lệ liên quan đến bịnh phung, bao gồm nhiều tình trạng và bệnh ngoài da khác nhau. Chương này đưa ra những chỉ dẫn cho các thầy tế lễ về việc kiểm tra những người có các triệu chứng đáng nghi, dù ở trên da, tóc hay quần-áo. Mục đích là duy trì sự tinh sạch của cộng đồng, bảo vệ dân sự khỏi những bệnh có thể lây lan và xác định tình trạng thanh sạch theo nghi lễ. Các thầy tế lễ đóng vai trò trung gian trong việc bảo đảm cả sức khỏe lẫn sự thanh sạch theo nghi lễ. Mặc dù từ “bịnh phung” được sử dụng, rất có thể từ này bao gồm một phạm vi rộng hơn các tình trạng bệnh mà ngày nay chúng ta gọi là bệnh phong.
Lê-vi Ký 13:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2 Khi một người nào da trên mình nổi sưng, mụt lở, hoặc một đém trắng, dường sẽ trở thành trên da mình một vít phung, thì người ta phải dẫn người đó đến thầy tế-lễ A-rôn, hay là đến một trong các con trai người là những thầy tế-lễ.
3 Thầy tế-lễ sẽ khán vít ở trên da thân người; nếu lông vít đó đã trở thành trắng, và nếu vít hủng xuống sâu hơn da thân mình, ấy là một vít phung: thầy tế-lễ khán rồi sẽ định người nầy là ô-uế.
Những câu này mở đầu những chỉ dẫn về việc kiểm tra các tình trạng trên da. Khi một người có những dấu hiệu rõ ràng như chỗ sưng, mụt lở hoặc đém trắng giống như bịnh phung, người đó phải được đem đến thầy tế-lễ để kiểm tra. Thầy tế-lễ có trách nhiệm xác định xem tình trạng đó có phải là một căn bệnh nghiêm trọng hay không. Nếu vít hủng sâu hơn da và lông tại chỗ đó đã trở thành trắng, người ấy được định là có bịnh phung và bị kể là ô-uế theo nghi lễ.
Lê-vi Ký 13:4-6 (VIE1934)
4 Còn nếu có một đém trắng trên da thân người, đém không sủng xuống sâu hơn da, và nếu lông không trở thành trắng, thì thầy tế-lễ phải giam người đó trong bảy ngày.
5 Qua ngày thứ bảy, thầy tế-lễ sẽ khán người, nếu vít đó ngừng lại, không ăn lan trên da, thì phải giam người một lần thứ nhì bảy ngày nữa.
6 Qua ngày thứ bảy, thầy tế-lễ sẽ khán người lại; nếu vít đó đã tái, không ăn lan trên da, thì thầy tế-lễ sẽ định người đó là tinh-sạch; ấy là mụt lở mà thôi. Người đó phải giặt áo-xống mình, thì sẽ được tinh-sạch.
Nếu chỗ đém không có những dấu hiệu nghiêm trọng như hủng sâu hơn da hoặc lông trở thành trắng, người ấy phải được giam riêng trong bảy ngày. Thời gian này cho phép theo dõi xem tình trạng sẽ trở nên xấu hơn hay thuyên giảm. Sau một tuần, thầy tế-lễ kiểm tra lại. Nếu không có sự thay đổi đáng kể và vít không ăn lan, người ấy được giam thêm bảy ngày. Nếu sau tuần thứ hai vít đã tái đi và không lan rộng, người ấy được định là tinh-sạch, cho thấy đó chỉ là mụt lở chứ không phải bịnh phung.
Lê-vi Ký 13:7-8 (VIE1934)
7 Nhưng nếu sau khi người đã đến trước mặt thầy tế-lễ để được định là tinh-sạch, mụt lở còn phát lại trên da, thì người phải đến thầy tế-lễ một lần thứ nhì.
8 Thầy tế-lễ sẽ khán cho, nếu mụt lở đã ăn lan trên da thì phải định người là ô-uế; ấy là bịnh phung vậy.
Nếu mụt lở tiếp tục lan trên da sau thời gian được kiểm tra, người ấy phải trở lại với thầy tế-lễ. Khi kiểm tra lại, nếu tình trạng đã trở nên xấu hơn và lan rộng trên da, thầy tế-lễ sẽ định người ấy là ô-uế, nghĩa là có bịnh phung. Điều này nhấn mạnh nhu cầu phải theo dõi cẩn thận để ngăn ngừa sự lây lan sang người khác.
Lê-vi Ký 13:9-11 (VIE1934)
9 Khi có một vít phung trên người nào, thì phải dẫn người đó đi tỏ mình cùng thầy tế-lễ.
10 Thầy tế-lễ khán cho; nếu có nổi sưng sắc trắng trên da làm cho lông trở thành trắng, và có một lằn thịt chín đỏ nơi chỗ sưng đó,
11 ấy là bịnh phung thâm-niên trong da của thân người, thầy tế-lễ sẽ định người là ô-uế, không nên giam họ, vì đã bị ô-uế rồi.
Khi các triệu chứng bao gồm chỗ sưng trắng, lông trắng và thịt chín đỏ, tình trạng này được xem là bịnh phung thâm-niên. Trong trường hợp này, không cần phải giam riêng thêm nữa vì tình trạng bịnh đã rõ ràng. Người đó lập tức bị định là ô-uế bởi các dấu hiệu cho thấy bệnh đã hiện diện lâu dài.
Lê-vi Ký 13:12-13 (VIE1934)
12 Còn nếu phung lở trên da, bao phủ hết da của người có vít đó, từ đầu chí chơn, khắp nơi nào thầy tế-lễ dòm thấy được,
13 thì thầy tế-lễ phải khán cho; nếu phung bao phủ cùng hết thịt, thì sẽ định người có vít là tinh-sạch; người đã hóa trắng cùng mình, nên được tinh-sạch vậy.
Điều đáng chú ý là nếu bịnh phung bao phủ toàn thân nhưng toàn bộ da đã hóa trắng, thầy tế-lễ lại phải định người ấy là tinh-sạch. Mặc dù tình trạng rất rộng, việc da hoàn toàn trở nên trắng cho thấy đây không phải là trạng thái được xem là nguy hiểm hoặc lây lan. Sự thay đổi toàn bộ da cho thấy tình trạng đã chuyển sang một trạng thái không còn được xem là gây ô-uế.
Lê-vi Ký 13:14-15 (VIE1934)
14 Nhưng ngày nào phát ra thịt chín đỏ, thì người bị ô-uế.
15 Khi thầy tế-lễ thấy thịt chín đỏ thì phải định người là ô-uế; thịt chín đỏ là ô-uế; ấy là bịnh phung vậy.
Nếu thịt chín đỏ xuất hiện giữa vùng da đã hóa trắng, đó là dấu hiệu tình trạng bịnh đang hoạt động hoặc trở nên nghiêm trọng. Thầy tế-lễ phải định người ấy là ô-uế. Thịt chín đỏ được xem là dấu hiệu rõ ràng của bịnh phung đang hiện diện.
Lê-vi Ký 13:16-17 (VIE1934)
16 Nhưng nếu thịt chín đỏ thay đi, hóa ra trắng, thì người phải đi tỏ mình cùng thầy tế-lễ;
17 thầy tế-lễ khán cho, và nếu vít đã trở thành trắng, thì phải định người có vít là tinh-sạch, vì đã được tinh-sạch rồi.
Nếu thịt chín đỏ lành lại và trở nên trắng, người đó có thể trở lại với thầy tế-lễ để được kiểm tra. Nếu thầy tế-lễ xác nhận vít đã trở nên trắng, người ấy được định là tinh-sạch một lần nữa. Điều này biểu thị rằng tình trạng gây ô-uế đã chấm dứt.
Lê-vi Ký 13:18-20 (VIE1934)
18 Khi một người nào trên da thân mình có mụt chốc đã chữa lành,
19 và tại chỗ mụt chốc có nổi sưng sắc trắng hay là một đém trắng-hồng, thì người đó phải đi tỏ mình cùng thầy tế-lễ;
20 thầy tế-lễ khán cho; nếu cái đém hủng sâu hơn da, và nếu lông trở thành trắng, thì thầy tế-lễ phải định người là ô-uế; ấy là một vít phung đã lở trong mụt chốc vậy.
Một mụt chốc đã chữa lành nhưng sau đó xuất hiện chỗ sưng trắng hoặc đém trắng-hồng phải được thầy tế-lễ kiểm tra. Nếu chỗ đó hủng sâu hơn da và lông trở thành trắng, đó là dấu hiệu cho thấy bịnh phung đã phát sinh từ mụt chốc, và người ấy bị định là ô-uế.
Lê-vi Ký 13:21-23 (VIE1934)
21 Còn nếu thầy tế-lễ khán, không thấy lông trắng trong chỗ đém, không hủng sâu hơn da, và thấy đã trở thành tái, thì hãy giam người đó trong bảy ngày.
22 Nếu đém ăn lan trên da thì thầy tế-lễ phải định người là ô-uế; ấy là một vít phung vậy.
23 Còn nếu vít cầm-cự một chỗ, không ăn lan ra, ấy là thẹo của mụt chốc; thầy tế-lễ phải định người là tinh-sạch.
Nếu chỗ sưng không có lông trắng, không hủng sâu hơn da và đã tái đi, người ấy được giam riêng trong bảy ngày. Nếu đém lan rộng, đó được xem là bịnh phung. Nhưng nếu nó vẫn giữ nguyên một chỗ, không lan ra, thì đó chỉ là thẹo của mụt chốc và người ấy được định là tinh-sạch.
Lê-vi Ký 13:24-25 (VIE1934)
24 Khi người nào bị phỏng lửa trên da, và dấu phỏng là một đém trắng-hồng hay là trắng,
25 thì thầy tế-lễ khán cho; nếu trong đém lông trở thành trắng, và nếu đém hủng sâu hơn da, ấy là bịnh phung lở trong mụt phỏng vậy. Thầy tế-lễ phải định người nầy là ô-uế; ấy là một vít phung.
Nếu một người bị phỏng và tại chỗ phỏng xuất hiện một đém trắng-hồng hoặc trắng, người ấy phải được đưa đến thầy tế-lễ. Nếu chỗ đó hủng sâu hơn da và có lông trở thành trắng, thì đó được xem là bịnh phung phát sinh trong chỗ phỏng. Người ấy bị định là ô-uế để ngăn ngừa sự truyền nhiễm có thể xảy ra.
Lê-vi Ký 13:26-28 (VIE1934)
26 Còn nếu thầy tế-lễ khán, không thấy lông trắng trong đém, không hủng sâu hơn da, và thấy đã tái rồi, thì hãy giam người nầy trong bảy ngày.
27 Qua ngày thứ bảy thầy tế-lễ khán người, nếu đém ăn lan trên da, thì phải định người là ô-uế; ấy là vít phung.
28 Còn nếu đém cầm-cự một chỗ, không ăn lan trên da và tái đi, ấy là sưng phỏng. Thầy tế-lễ phải định người là tinh-sạch, vì là thẹo phỏng lửa.
Nếu chỗ phỏng không có dấu hiệu của lông trắng hoặc chỗ hủng sâu mà đã tái đi, người ấy được giam riêng trong bảy ngày. Sau một tuần, nếu đém lan rộng thì bị định là bịnh phung. Nhưng nếu nó vẫn giữ nguyên một chỗ và tái đi, đó chỉ là chỗ sưng do phỏng, và người ấy được định là tinh-sạch vì đó là thẹo của phỏng lửa.
Lê-vi Ký 13:29-31 (VIE1934)
29 Khi nào một người nam hay nữ có vít trên đầu, hoặc nơi râu,
30 thì thầy tế-lễ khán vít đó. Nếu vít hủng sâu hơn da, có lông nhỏ vàng-vàng, thì thầy tế-lễ phải định người ra ô-uế; ấy là tật đòng-đanh, tức là bịnh phung của đầu hay là của râu.
31 Còn nếu khi thầy tế-lễ khán vít đòng-đanh, thấy vít không hủng sâu hơn da, và không thấy có lông đen, thì phải giam người có vít đòng-đanh trong bảy ngày.
Khi một người có vít trên đầu hoặc nơi râu, thầy tế-lễ phải kiểm tra. Nếu vít hủng sâu hơn da và có lông nhỏ vàng-vàng, đó được xem là bịnh phung của đầu hoặc râu và người ấy bị định là ô-uế. Nhưng nếu vít không hủng sâu hơn da và không có lông đen, người ấy phải được giam riêng trong bảy ngày để tiếp tục theo dõi.
Lê-vi Ký 13:32-33 (VIE1934)
32 Qua ngày thứ bảy thầy tế-lễ khán vít; nếu đòng-đanh không ăn lan ra, không có lông vàng-vàng, và không hủng sâu hơn da,
33 thì người đó phải cạo gọt, nhưng không nên cạo gọt chỗ vít đòng-đanh, rồi thầy tế-lễ sẽ giam người một lần thứ nhì bảy ngày nữa.
Đến ngày thứ bảy, thầy tế-lễ kiểm tra lại. Nếu vít không lan rộng, không có lông vàng-vàng và không hủng sâu hơn da, người ấy phải cạo tóc nhưng không cạo phần bị vít. Đây là một biện pháp thận trọng để dễ dàng tiếp tục theo dõi tình trạng. Sau đó người ấy được giam thêm bảy ngày nữa.
Lê-vi Ký 13:34-35 (VIE1934)
34 Đoạn ngày thứ bảy, thầy tế-lễ khán cho; nếu đòng-đanh không ăn lan trên da, không hủng sâu hơn da, thì thầy tế-lễ phải định người là tinh-sạch; kẻ bịnh phải giặt áo-xống mình, thì sẽ được tinh-sạch.
35 Nhưng nếu sau khi người đã được định là tinh-sạch, đòng-đanh lại còn ăn lan trên da, thì thầy tế-lễ phải khán cho.
Nếu sau tuần thứ hai vít không lan rộng và không hủng sâu hơn da, người ấy được định là tinh-sạch và phải giặt áo-xống mình. Nhưng nếu sau khi đã được định là tinh-sạch mà vít lại tiếp tục lan trên da, thầy tế-lễ phải kiểm tra người ấy một lần nữa.
Lê-vi Ký 13:36-37 (VIE1934)
36 Nếu đòng-đanh đã ăn lan trên da rồi, thầy tế-lễ không cần tìm thấy lông vàng-vàng, người đã bị ô-uế.
37 Nhưng nếu đòng-đanh xem bộ ngừng lại, và đã lố mọc lông đen, đòng-đanh đã lành: người đã được tinh-sạch, và thầy tế-lễ phải định người là tinh-sạch.
Nếu vít đã lan trên da, việc tìm kiếm lông vàng-vàng không còn cần thiết nữa, vì sự lan rộng đã đủ để chứng minh người ấy phải bị định là ô-uế. Ngược lại, nếu vít dường như đã ngừng lại và lông đen đã mọc lên, điều đó cho thấy vít đã lành. Khi ấy thầy tế-lễ phải định người là tinh-sạch.
Lê-vi Ký 13:38-39 (VIE1934)
38 Khi nào người nam hay nữ trên da thân mình có những đém trắng,
39 thầy tế-lễ sẽ khán cho. Nếu trên da thân người có những đém trắng-xanh, ấy là một đém trắng lở trên da mà thôi: người vẫn tinh-sạch.
Nếu một người có những đém trắng trên da, thầy tế-lễ phải kiểm tra. Nếu những đém ấy có màu trắng-xanh nhạt, đó chỉ là một dạng đém trắng trên da và người ấy vẫn được định là tinh-sạch. Tình trạng này không được xem là bịnh phung.
Lê-vi Ký 13:40-41 (VIE1934)
40 Khi một người nào đầu rụng tóc, ấy là một người sói đầu: người vẫn tinh-sạch.
41 Nếu đầu người rụng tóc về phía mặt, ấy là một người sói trán: người vẫn tinh-sạch.
Sự rụng tóc tự nhiên, dù xảy ra trên đỉnh đầu hay ở phía trước trán, không được xem là dấu hiệu của sự ô-uế. Những người bị hói không phải lo rằng tình trạng này có liên quan đến bịnh phung hay cần phải thực hiện một nghi lễ đặc biệt nào.
Lê-vi Ký 13:42-44 (VIE1934)
42 Còn nếu trong chỗ sói phía trước hay là phía sau có một vít trắng-hồng, ấy là bịnh phung lở ra ở chỗ sói phía trước hay là phía sau.
43 Thầy tế-lễ phải khán cho; nếu nơi sưng của vít trong chỗ sói phía trước hay là phía sau có màu trắng-hồng, giống như bịnh phung tại da của thân người,
44 thì người nầy bị phung, thầy tế-lễ sẽ định người là ô-uế; vít người ở nơi đầu.
Nếu một vít trắng-hồng xuất hiện trên phần đầu bị hói hoặc nơi trán bị hói, người đó phải được thầy tế-lễ kiểm tra. Nếu chỗ sưng có biểu hiện giống như bịnh phung trên da thân thể, người ấy được xác định là bị phung và bị định là ô-uế. Việc người đó bị hói không làm thay đổi quy định về việc kiểm tra và định tình trạng của vít.
Lê-vi Ký 13:45-46 (VIE1934)
45 Vả, người đã bị vít phung rồi phải xé quần-áo, đầu trần, che râu lại và la rằng: Ô-uế! ô-uế!
46 Trọn lúc nào người có vít, thì sẽ bị ô-uế, phải ở một mình ngoài trại-quân.
Một khi một người đã được định là ô-uế vì bịnh phung, người đó phải sống cách biệt khỏi cộng đồng. Người phải xé quần-áo, để đầu trần, che râu và la lên rằng “Ô-uế! ô-uế!” để cảnh báo những người khác. Điều này vừa là một biện pháp bảo vệ cộng đồng khỏi sự lây lan, vừa là một tuyên bố công khai về tình trạng ô-uế theo nghi lễ. Người bịnh phải ở một mình ngoài trại-quân trong suốt thời gian còn có vít.
Lê-vi Ký 13:47-49 (VIE1934)
47 Khi nào lên mốc trên quần-áo, như vít phung, bất luận trên quần-áo bằng lông chiên hay quần-áo bằng vải gai,
48 trên canh hay trên chỉ bằng gai, hoặc bằng lông chiên, trên da hay là trên món nào bằng da;
49 nếu vít đó màu xanh-xanh hay đỏ-đỏ, trên quần-áo hoặc trên da, trên canh hoặc trên chỉ hay là trên món nào bằng da, thì phải coi như bịnh phung, đem đến tỏ cho thầy tế-lễ.
Khái niệm về bịnh phung không chỉ áp dụng cho da người mà còn được áp dụng cho quần-áo và những vật liệu khác. Nếu quần-áo bằng lông chiên, vải gai, da hoặc những đồ bằng da xuất hiện những dấu xanh-xanh hay đỏ-đỏ, thì phải đem đến cho thầy tế-lễ kiểm tra. Điều này cho thấy sự ô-uế có thể được xác định không chỉ trên con người mà còn trên những vật dụng có khả năng bị ảnh hưởng bởi tình trạng được xem là “bịnh phung”.
Lê-vi Ký 13:50-52 (VIE1934)
50 Thầy tế-lễ sẽ khán cho, và giam món có vít ấy trong bảy ngày.
51 Qua ngày thứ bảy, thầy tế-lễ khán vít lại; nếu vít ăn lan trên quần-áo, trên canh hay chỉ, trên da hay trên món chi bằng da, thì phải coi như bịnh phung ăn luồn; món đó bị ô-uế.
52 Vậy, người phải đốt quần-áo, canh hay chỉ bằng lông chiên hoặc bằng gai, hoặc các món chi làm bằng da, ở trên nó mà đã bị vít, vì là một bịnh phung ăn ruồng: phải thiêu đi.
Thầy tế-lễ phải giam riêng món đồ bị nhiễm trong bảy ngày, tương tự như cách kiểm tra một người. Sau ngày thứ bảy, nếu vít đã ăn lan trên quần-áo hoặc vật liệu, nó được xem là bịnh phung ăn luồn và món đó bị ô-uế. Để ngăn ngừa sự lan rộng hơn nữa, món đồ phải được thiêu hoàn toàn.
Lê-vi Ký 13:53-54 (VIE1934)
53 Còn nếu thầy tế-lễ khán, chẳng thấy vít đó ăn lan trên quần-áo, trên canh hay trên chỉ, hoặc các món chi làm bằng da,
54 thì người hãy biểu họ đem giặt món có vít đó đi, rồi giam nó một lần thứ nhì trong bảy ngày nữa.
Nếu sau bảy ngày đầu tiên vít không lan rộng, thầy tế-lễ phải truyền đem món đồ đó đi giặt rồi giam riêng thêm bảy ngày nữa. Thời gian theo dõi thứ hai này nhằm bảo đảm rằng tình trạng không tiếp tục phát triển sau khi vật bị giặt.
Lê-vi Ký 13:55-56 (VIE1934)
55 Khi giặt rồi, thầy tế-lễ sẽ khán lại, nếu vít đó không phai màu và cũng chẳng ăn lan ra, thì món đó là ô-uế: ngươi hãy đem thiêu đi, vì là một thứ vít mốc ăn vào bề trái hay là bề mặt.
56 Còn nếu sau khi giặt rồi, thầy tế-lễ thấy vít đã tái, thì phải gỡ nó khỏi quần-áo, da, canh hay chỉ đi.
Sau khi món đồ được giặt và giam thêm bảy ngày, nếu vít không đổi màu mặc dù không lan rộng, món đồ vẫn bị xem là ô-uế và phải bị thiêu vì tình trạng vẫn còn hiện diện. Tuy nhiên, nếu vít đã tái đi sau khi giặt, phần bị ảnh hưởng có thể được gỡ bỏ khỏi quần-áo, da, canh hoặc chỉ, để giữ lại phần còn tốt.
Lê-vi Ký 13:57-58 (VIE1934)
57 Nếu vít mốc còn ló lên lại trên quần-áo, trên canh hay chỉ, hoặc trên món chi bằng da, thì phải coi như một vít phung, và thiêu món có vít đó đi.
58 Nhưng quần-áo, canh hay chỉ, hoặc món nào bằng da mà ngươi đã giặt, và vít đã lặn rồi, thì hãy đem giặt một lần thứ nhì nữa, đoạn sẽ được tinh-sạch.
Nếu vít xuất hiện trở lại trên món đồ, điều đó cho thấy tình trạng vẫn tiếp tục lan rộng, và món đồ có vít phải bị thiêu. Nhưng nếu sau khi giặt vít đã biến mất, món đồ được giặt thêm một lần thứ hai và sau đó được xem là tinh-sạch.
Lê-vi Ký 13:59 (VIE1934)
59 Đó là luật-lệ về vít lên mốc như phung trên quần-áo bằng lông chiên hay bằng vải gai, trên canh hay chỉ, hoặc trên món chi bằng da, chiếu theo luật-lệ đó mà phải định là tinh-sạch hay là ô-uế.
Câu này kết thúc những chỉ dẫn liên quan đến các vật bị nhiễm. Mục đích của những luật lệ này là hướng dẫn các thầy tế lễ xác định một vật là tinh-sạch hay ô-uế và quản lý những trường hợp bịnh phung không chỉ ở trên con người mà còn trên quần-áo và các vật liệu khác. Điều đó giúp bảo vệ sự tinh sạch của cộng đồng và duy trì trật tự thánh khiết giữa dân Y-sơ-ra-ên.

