top of page

Lê-vi Ký 14

Lê-vi Ký 14 tiếp tục các luật về sự thanh tẩy theo nghi lễ, tập trung vào cách một người đã được chữa khỏi bệnh phung (hay một bệnh ngoài da) được phục hồi trở lại với cộng đồng. Chương này bao gồm những chỉ dẫn chi tiết về việc thanh tẩy theo nghi lễ cho cả người bệnh và nhà ở nếu bị ảnh hưởng bởi một chứng bệnh gây ô uế. Chương này làm nổi bật tiến trình tỉ mỉ và mang tính biểu tượng cần thiết để một người được tái hòa nhập vào xã hội và sự thờ phượng, cho thấy tầm quan trọng của sự thánh khiết và tinh sạch trong mối quan hệ giao ước của Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 14:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2 Nầy là luật-lệ cho kẻ phung về ngày nó được sạch. Người ta sẽ dẫn người phung đến thầy tế-lễ;
3 thầy tế-lễ sẽ ra ngoài trại-quân mà khám bịnh cho. Nếu vít phung của người bịnh lành rồi,

Đức Chúa Trời chỉ dẫn Môi-se cách một người được chữa khỏi bệnh phung phải được làm cho thanh sạch. Người từng bị ô uế vì bệnh phung được đưa đến thầy tế lễ để được khám bên ngoài trại quân, tượng trưng cho việc bệnh phung đã khiến người ấy bị cách ly khỏi cộng đồng. Nếu thầy tế lễ xác nhận rằng bệnh đã lành, đây là bước đầu tiên để phục hồi người ấy trở lại giữa dân sự và trong cộng đồng thờ phượng.

Lê-vi Ký 14:4-7 (VIE1934)
4 thì về phần người phải được sạch, thầy tế-lễ sẽ truyền đem hai con chim vẫn sống và tinh-sạch, cây hương-nam, màu đỏ sặm, và nhành kinh-giới.
5 Thầy tế-lễ biểu cắt cổ một trong hai chim đó trong chậu sành, trên nước chảy.
6 Đoạn, bắt lấy chim còn sống với cây hương-nam, màu đỏ sặm, nhành kinh-giới, đem nhúng trong huyết của chim kia đã cắt cổ trên nước chảy.
7 Thầy tế-lễ phải rảy huyết bảy lần trên người được sạch phung, và định người là tinh-sạch, rồi thả con chim còn sống ra ngoài đồng.

Nghi thức thanh tẩy bao gồm hai con chim sống, tượng trưng cho sự tinh sạch và sự tự do. Một con chim bị giết, và huyết của nó được dùng cùng với nước, cây hương-nam, màu đỏ sặm và nhành kinh-giới để làm sạch người bệnh. Những yếu tố này thường gắn liền với sự thanh tẩy và sự chuộc tội. Con chim còn sống, sau khi được nhúng trong huyết, được thả ra, tượng trưng cho sự giải thoát khỏi tình trạng ô uế và sự sống được phục hồi của người ấy. Hành động này cũng minh họa rằng sự thanh tẩy khỏi tội lỗi hoặc sự ô uế đòi hỏi cả sự chết (của lễ hy sinh) lẫn một khởi đầu mới (sự tự do).

Lê-vi Ký 14:8-9 (VIE1934)
8 Kẻ được sạch sẽ giặt áo-xống mình, cạo hết lông, tắm trong nước, rồi sẽ được tinh-sạch. Kế đó người được vào trại-quân, nhưng phải ở ngoài trại mình trong bảy ngày.
9 Qua ngày thứ bảy người sẽ cạo hết lông, tóc, râu, và lông mày mình, giặt quần-áo và tắm mình trong nước, thì sẽ được tinh-sạch.

Sau nghi thức với những con chim, người được thanh tẩy phải làm sạch hoàn toàn bằng cách giặt áo xống, cạo hết lông và tắm mình. Điều này cho thấy việc loại bỏ hoàn toàn sự ô uế. Mặc dù người ấy được phép trở lại trại quân, người vẫn phải ở ngoài trại mình thêm bảy ngày. Ngày thứ bảy đánh dấu giai đoạn cuối cùng của sự thanh tẩy, khi người ấy lặp lại việc cạo lông và tắm rửa, tượng trưng cho sự làm sạch hoàn toàn và sự tái hòa nhập.

Lê-vi Ký 14:10-13 (VIE1934)
10 Qua ngày thứ tám, người bắt hai chiên con đực không tì-vít chi, một chiên con cái chưa giáp năm, không tì-vít chi, ba phần mười ê-pha bột lọc, chế dầu, làm của-lễ chay, và một lót dầu;
11 thầy tế-lễ làm lễ nên thanh-sạch sẽ đem người đương được sạch và các vật đó đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa hội-mạc.
12 Kế đó, thầy tế-lễ sẽ bắt một trong hai chiên con đực dâng làm của-lễ chuộc sự mắc lỗi với một lót dầu, và đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
13 Đoạn, người giết chiên con đó trong nơi thường giết các con sinh dùng làm của-lễ chuộc tội và của-lễ thiêu, tức là trong một nơi thánh, vì của-lễ chuộc sự mắc lỗi thuộc về thầy tế-lễ như của-lễ chuộc tội vậy; ấy là một vật chí-thánh.

Vào ngày thứ tám, các của lễ được dâng, cho thấy sự chuộc tội là điều cần thiết cho tiến trình thanh tẩy. Hai chiên đực và một chiên cái được dâng, bao gồm của lễ chuộc sự mắc lỗi và của lễ chuộc tội, để che đậy mọi sự ô uế mà người ấy có thể đã mang vào cộng đồng. Thầy tế lễ thực hiện nghi thức đưa qua đưa lại, tượng trưng cho việc trình dâng người ấy trước mặt Đức Giê-hô-va, bảo đảm rằng người đó được phục hồi hoàn toàn về phương diện thuộc linh và nghi lễ.

Lê-vi Ký 14:14-18 (VIE1934)
14 Thầy tế-lễ sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc sự mắc lỗi bôi trên trái tai hữu của người được sạch, trên ngón cái tay mặt và trên ngón cái chân mặt;
15 đoạn lấy lót dầu đổ trong bàn tay tả mình,
16 nhúng ngón tay hữu vào dầu trong bàn tay tả mình, mà rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va.
17 Dầu còn lại trong bàn tay mình, thầy tế-lễ sẽ lấy bôi trên trái tai hữu của người được sạch, trên ngón cái tay mặt và ngón cái chân mặt, tức trên lớp huyết của-lễ chuộc sự mắc lỗi.
18 Dầu còn dư lại trong bàn tay mình, thầy tế-lễ sẽ đổ trên đầu người được sạch; vậy thầy tế-lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va.

Huyết của của lễ được bôi trên tai, tay và chân, tượng trưng cho sự thanh tẩy việc nghe, hành động và bước đi của người ấy trước mặt Đức Chúa Trời. Dầu tượng trưng cho Thánh Linh và xức cho người được thanh tẩy, biểu thị sự nên thánh và đổi mới. Việc rảy dầu trước mặt Đức Giê-hô-va nhấn mạnh sự chấp thuận của Đức Chúa Trời đối với sự thanh tẩy, trong khi việc xức dầu trên đầu biểu thị rằng người ấy được phục hồi hoàn toàn và được ban phước trong mắt Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 14:19-20 (VIE1934)
19 Đoạn, thầy tế-lễ dâng của-lễ chuộc tội đặng làm lễ chuộc tội cho người được sạch sự ô-uế mình. Kế đó, thầy tế-lễ sẽ giết con sinh dùng làm của-lễ thiêu,
20 dâng lên với của-lễ chay trên bàn-thờ; vậy, thầy tế-lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người nầy, thì người nầy sẽ được tinh-sạch.

Sau những nghi thức xức dầu và thanh tẩy, một của lễ chuộc tội được dâng để chuộc cho bất cứ sự ô uế nào còn lại. Của lễ thiêu tượng trưng cho sự tận hiến và thờ phượng trọn vẹn đối với Đức Chúa Trời, biểu thị sự phục hồi của người ấy và sự chấp nhận hoàn toàn vào cộng đồng giao ước. Của lễ này cũng phản ánh lòng biết ơn và mối quan hệ được đổi mới của người ấy với Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 14:21-23 (VIE1934)
21 Nhưng nếu người đó nghèo-nàn, không phương-thế đủ dâng những lễ-vật nầy, thì phải bắt một chiên con đực dùng làm của-lễ chuộc sự mắc lỗi, dâng đưa qua đưa lại đặng làm lễ chuộc tội cho mình, một phần mười bột lọc chế dầu làm của-lễ chay, và một lót dầu.
22 Tùy theo phương-thế mình, người cũng đem nộp hai con chim cu hay là hai bồ-câu con; con nầy dùng làm của-lễ chuộc tội, con kia dùng làm của-lễ thiêu.
23 Qua ngày thứ tám, người phải vì sự nên thanh-sạch mình, đem nộp các lễ-vật nầy cho thầy tế-lễ tại cửa hội-mạc, trước mặt Đức Giê-hô-va.

Nếu người ấy nghèo và không có khả năng dâng những của lễ theo tiêu chuẩn thông thường, một sự cung ứng được dành cho người đó bằng cách dâng ít con vật hơn hoặc những lễ vật ít tốn kém hơn. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm đến sự công bằng và rằng sự thanh tẩy cùng sự phục hồi được dành cho mọi người, bất kể tình trạng tài chính. Ngay cả trong hình thức được giảm bớt, nghi thức vẫn tượng trưng cho sự chuộc tội, sự thờ phượng và mối quan hệ giao ước được đổi mới với Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 14:24-25 (VIE1934)
24 Thầy tế-lễ sẽ bắt chiên con đực định làm của-lễ chuộc sự mắc lỗi, và một lót dầu, rồi dâng lên đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
25 Đoạn, người giết chiên con dùng làm của-lễ chuộc sự mắc lỗi, lấy huyết bôi trên trái tai hữu của kẻ được sạch, trên ngón cái tay mặt và trên ngón cái chân mặt.

Nghi thức tương tự cũng được thực hiện cho người nghèo, với thầy tế lễ dâng con chiên làm của lễ chuộc sự mắc lỗi. Điều này bao gồm việc đưa của lễ qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, biểu thị việc dâng đời sống của người ấy trở lại cho Đức Chúa Trời. Huyết một lần nữa được bôi trên tai phải, ngón cái và ngón chân, tượng trưng rằng sự nghe, hành động và bước đi của người ấy nay được thanh sạch và dâng cho Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 14:26-29 (VIE1934)
26 Rồi thầy tế-lễ đổ dầu vào bàn tay tả mình,
27 ngón tay hữu nhúng lấy dầu đổ trong bàn tay tả, rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va,
28 và bôi trên trái tai hữu của người được sạch, trên ngón cái tay mặt và trên ngón cái chân mặt, tại nơi đã bôi huyết của-lễ chuộc sự mắc lỗi.
29 Dầu còn dư lại trong bàn tay, thầy tế-lễ sẽ đổ trên đầu người được sạch, đặng làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va.

Dầu, tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời, được rảy và bôi giống như trong nghi thức trước đó. Việc bôi dầu trên cùng những vị trí đã được bôi huyết—tai, ngón cái và ngón chân—làm nổi bật rằng người ấy không chỉ được thanh tẩy khỏi sự ô uế mà còn được xức dầu cho một đời sống mới trong sự thánh khiết. Dầu trên đầu biểu thị sự ban phước và sự xức dầu bởi Đức Chúa Trời, hoàn tất tiến trình chuộc tội.

Lê-vi Ký 14:30-32 (VIE1934)
30 Đoạn, thầy tế-lễ sẽ dâng một trong hai con chim cu, hoặc một trong hai con bồ-câu con, tùy theo vật họ nộp,
31 dâng con nầy dùng làm của-lễ chuộc tội con kia dùng làm của-lễ thiêu, với của-lễ chay. Vậy, thầy tế-lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người được sạch trước mặt Đức Giê-hô-va.
32 Đó là luật-lệ về lễ nên thanh-sạch của kẻ nghèo-nàn bị vít phung.

Đối với người nghèo, sau nghi thức với dầu, họ đem hai con chim: một con làm của lễ chuộc tội và một con làm của lễ thiêu, cùng với của lễ chay. Sự cung ứng này bảo đảm rằng ngay cả những người không đủ khả năng dâng những của lễ thông thường vẫn có thể được thanh sạch và phục hồi trọn vẹn. Vai trò của thầy tế lễ là thiết yếu trong việc làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va, cho thấy sự thanh tẩy được dành cho tất cả mọi người, bất kể tình trạng tài chính.

Lê-vi Ký 14:33-36 (VIE1934)
33 Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:
34 Khi nào các ngươi sẽ vào xứ Ca-na-an, mà ta sẽ cho các ngươi làm sản-nghiệp, nếu ta giáng một vít mốc như vít phung trong nhà nào của xứ các ngươi sẽ được làm sản-nghiệp,
35 chủ nhà đó phải đến cáo cùng thầy tế-lễ rằng: Tôi thấy như có một vít mốc trong nhà.
36 Trước khi vào khám vít mốc đó, thầy tế-lễ phải truyền họ đem đồ-đạc trong nhà ra hết, hầu cho khỏi bị lây ô-uế; sau khi dời xong, thầy tế-lễ sẽ vào đặng khám nhà.

Đức Chúa Trời giờ đây mở rộng các luật về sự thanh tẩy đến những ngôi nhà trong xứ Ca-na-an, cho thấy sự tinh sạch không chỉ liên quan đến cá nhân mà còn đến cả gia đình và nơi ở. Nếu một ngôi nhà bị nghi có vít mốc gây ô uế, thầy tế lễ phải kiểm tra. Trước khi kiểm tra, ngôi nhà phải được dọn hết để ngăn không cho bất cứ thứ gì bị lây ô uế. Tiến trình cẩn thận này cho thấy sự ô uế, ngay cả trong một không gian vật chất, cũng cần được giải quyết qua sự can thiệp của thầy tế lễ.

Lê-vi Ký 14:37-42 (VIE1934)
37 Người sẽ xem vít đó, nếu nó ở nơi vách có lỗ màu xanh-xanh, hoặc đỏ-đỏ, bộ sâu hơn mặt vách,
38 thì thầy tế-lễ phải đi ra đến cửa ngoài, niêm nhà lại trong bảy ngày.
39 Ngày thứ bảy, thầy tế-lễ trở lại, nếu thấy vít ăn lan ra trên vách nhà,
40 thì phải truyền gỡ mấy cục đá bị vít lây, liệng ra ngoài thành trong một nơi dơ-dáy;
41 đoạn biểu người ta cạo trong nhà và chung quanh nhà, và hốt bỏ bụi cạo đó ra ngoài thành trong một nơi dơ-dáy;
42 rồi lấy đá khác trám vào chỗ đá cũ, và đem hồ mới tô lại khắp nhà.

Nếu thầy tế lễ phát hiện những chỗ xanh hoặc đỏ dường như ăn sâu vào tường, nhà phải bị niêm phong trong bảy ngày. Nếu sau thời gian đó vít mốc lan rộng, những cục đá bị ảnh hưởng phải được gỡ ra và đem bỏ ở một nơi dơ dáy bên ngoài thành. Sau đó, ngôi nhà được cạo sạch và tô lại bằng vật liệu mới. Tiến trình này tượng trưng cho việc loại bỏ hoàn toàn sự ô uế, cho thấy sự không tinh sạch, dù thuộc thể chất hay thuộc linh, phải được loại trừ trọn vẹn trước khi có thể phục hồi.

Lê-vi Ký 14:43-47 (VIE1934)
43 Nhưng nếu sau khi đã gỡ mấy cục đá, cạo nhà và tô lại, vít đó trở lại lở trong nhà,
44 thì thầy tế-lễ phải đến khám nữa. Nếu thấy vít ăn lan ra, ấy là một vít phung ăn ruồng nhà; nhà đã bị ô-uế.
45 Vậy họ phải phá nhà đi, đá, gỗ và hồ, rồi đem đổ hết thảy ngoài thành trong một nơi dơ-dáy.
46 Trong lúc niêm nhà, ai đi vào thì sẽ bị lây ô-uế cho đến chiều tối.
47 Ai ngủ, hoặc ăn trong nhà đó phải giặt quần-áo mình.

Nếu sự nhiễm bệnh vẫn tiếp tục sau khi ngôi nhà đã được làm sạch và sửa chữa, ngôi nhà phải bị phá hoàn toàn, với tất cả vật liệu được đem ra một nơi dơ dáy bên ngoài thành. Bất cứ ai bước vào ngôi nhà trong thời gian bị niêm phong đều bị xem là ô uế và phải giặt quần áo. Điều này phản ánh tính nghiêm trọng của sự ô uế, cho thấy có những lúc một điều gì đó đã trở nên quá băng hoại đến mức phải được loại bỏ hoàn toàn để ngăn sự lây nhiễm tiếp tục.

Lê-vi Ký 14:48-53 (VIE1934)
48 Nhưng sau khi nhà đã tô rồi, nếu thầy tế-lễ trở lại, khám thấy vít không ăn lan trong nhà, thì phải định nhà là tinh-sạch, vì vít đó đã lành rồi.
49 Đặng làm lễ nên thanh-sạch cho nhà, người phải lấy hai con chim, cây hương-nam, màu đỏ sặm và nhành kinh-giới;
50 giết một con chim trong chậu sành, trên nước chảy,
51 rồi lấy cây hương-nam, nhành kinh-giới, màu đỏ sặm, và con chim sống, nhúng hết trong huyết con chim đã cắt cổ trên nước chảy, và rảy bảy lần trên nhà.
52 Vậy, người dùng huyết con chim, nước chảy, con chim sống, cây hương-nam, nhành kinh-giới, và màu đỏ sặm đặng làm lễ khiến nhà nên thanh-sạch.
53 Đoạn, người thả con chim sống bay ra ngoài thành đến nơi ruộng; người sẽ làm lễ chuộc tội cho nhà, thì nhà sẽ được sạch.

Nếu ngôi nhà được phát hiện là tinh sạch sau khi kiểm tra, thầy tế lễ thực hiện một nghi thức thanh tẩy tương tự như nghi thức dành cho một người được chữa khỏi bệnh phung. Hai con chim, cây hương-nam, nhành kinh-giới và màu đỏ sặm được dùng để làm sạch ngôi nhà, với một con chim bị giết và con kia được thả tự do. Nghi thức này minh họa rằng Đức Chúa Trời mong muốn mọi sự, kể cả nhà ở, đều được giải khỏi sự ô uế. Sự tự do của con chim tượng trưng cho sự giải thoát khỏi tình trạng ô uế, và ngôi nhà được tuyên bố là sạch.

Lê-vi Ký 14:54-57 (VIE1934)
54 Đó là luật-lệ về các thứ vít phung và tật đòng-đanh,
55 về vít mốc trên quần-áo và nhà ở, như vít phung,
56 về chỗ sưng, chỗ lở ra và chỗ đốm,
57 đặng dạy cho biết khi nào ô-uế, và khi nào tinh-sạch. Đó là luật-lệ về bịnh phung vậy.

Những câu cuối này tóm tắt các luật về bệnh phung đối với cá nhân, quần áo và nhà ở. Những luật này nhấn mạnh rằng sự phân biệt giữa tinh sạch và ô uế là điều quan trọng để duy trì sự thánh khiết trong cộng đồng. Thầy tế lễ có trách nhiệm chẩn đoán và bảo đảm sự thanh tẩy thích hợp trong từng trường hợp, phản ánh mong muốn của Đức Chúa Trời rằng dân Ngài phải được giải khỏi sự ô uế, cả về thể chất lẫn thuộc linh. Những quy định này làm nổi bật mức độ nghiêm trọng mà Đức Chúa Trời dành cho sự tinh sạch và thánh khiết.

bottom of page