top of page

Lê-vi Ký 21

Lê-vi Ký 21 đưa ra những chỉ dẫn về cách cư xử và sự thánh khiết của các thầy tế lễ, đặc biệt tập trung vào việc họ phải giữ mình thanh sạch theo nghi lễ khi ở trước mặt Đức Chúa Trời. Những luật lệ này nhấn mạnh sự khác biệt giữa các thầy tế lễ và dân sự mà họ phục vụ, trình bày cách hành động của họ, đặc biệt liên quan đến người chết, hôn nhân và sự trọn vẹn về thân thể, phải phản ánh tính thánh của chức vụ họ.

Lê-vi Ký 21:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng: Hãy nói cùng những thầy tế-lễ, là các con trai A-rôn, mà rằng: Thầy tế-lễ chớ vì một người chết trong dân-sự mà làm cho mình ra ô-uế;
2 trừ ra vì bà-con thân-thích mình, vì mẹ, cha, con trai, con gái, anh em mình,
3 và vì chị em ruột mình còn đồng-trinh, chưa chồng, thì người được vì chị em đó làm cho mình ra ô-uế.

Các thầy tế lễ không được làm mình ra ô-uế bởi việc tiếp xúc với người chết, ngoại trừ trường hợp những người thân cận nhất trong gia đình. Điều này quan trọng vì việc chạm đến xác chết khiến một người bị ô-uế theo nghi lễ. Tuy nhiên, đối với những thành viên trong gia đình như cha mẹ, anh chị em chưa lập gia đình và con cái, có những trường hợp ngoại lệ. Sự phân biệt này nhấn mạnh địa vị đặc biệt của thầy tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời và trách nhiệm của ông phải tránh sự ô-uế, đồng thời vẫn cho phép ông than khóc những người thân gần gũi.

Lê-vi Ký 21:4 (VIE1934)
4 Người là đầu-trưởng trong dân-sự mình, chớ làm mình ra tục mà bị ô-uế.

Thầy tế lễ, với vai trò là người đại diện cho sự thánh khiết giữa dân sự, phải tránh những hoàn cảnh khiến mình bị ô-uế. Câu này làm rõ thêm rằng thầy tế lễ không được tham dự vào những thực hành làm giảm đi sự thánh khiết hoặc phẩm giá của chức vụ mình. Chức vụ của thầy tế lễ mang tính lãnh đạo, và họ được mong đợi duy trì một tiêu chuẩn cao hơn về sự tinh sạch trong cách cư xử.

Lê-vi Ký 21:5 (VIE1934)
5 Các thầy tế-lễ chớ nên làm sói trên đầu; chớ cạo mép râu mình, đừng cắt thịt mình.

Câu này cấm các thầy tế lễ thực hành những tập tục tang chế ngoại giáo, chẳng hạn như cạo những phần trên đầu hoặc cắt thịt mình. Những nghi thức như vậy phổ biến giữa các dân tộc xung quanh để bày tỏ sự đau buồn hoặc lòng tận hiến cho các thần giả. Các thầy tế lễ của Đức Chúa Trời được kêu gọi tránh những tập tục này để giữ mình khác biệt và thánh khiết, tách khỏi những thực hành thờ hình tượng của các nền văn hóa khác.

Lê-vi Ký 21:6 (VIE1934)
6 Họ sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời mình, và chớ làm ô danh Ngài, vì họ dâng cho Đức Giê-hô-va các của-lễ dùng lửa thiêu; tức là thực-vật của Đức Chúa Trời mình: họ phải nên thánh.

Câu này nhấn mạnh lý do đằng sau những giới hạn trên: các thầy tế lễ trực tiếp phục vụ trước mặt Đức Chúa Trời, dâng các của-lễ và thực hiện những nghi lễ thánh. Vì những trách nhiệm thiêng liêng của mình, họ phải nên thánh và không được làm ô uế trong hành động hay cách cư xử. Bất kỳ sự ô-uế nào không chỉ làm nhục chính họ mà còn làm ô danh Đức Chúa Trời mà họ đại diện.

Lê-vi Ký 21:7 (VIE1934)
7 Thầy tế-lễ chớ nên cưới một người kỵ-nữ hay là kẻ dâm-ô; cũng chẳng nên cưới người bị chồng để, vì thầy tế-lễ đã biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời mình.

Các thầy tế lễ bị cấm cưới những người nữ có những hoàn cảnh nhất định, như kẻ dâm-ô, người bị xem là ô-uế hoặc người đã bị chồng bỏ. Mạng lệnh này nhấn mạnh nhu cầu giữ mình thanh sạch ngay cả trong mối quan hệ hôn nhân, bởi vì sự kết hợp của thầy tế lễ cũng phải phản ánh việc ông phục vụ một Đức Chúa Trời thánh khiết. Đời sống gia đình của thầy tế lễ cũng phải trở thành một mẫu mực về sự tinh sạch cho cộng đồng.

Lê-vi Ký 21:8 (VIE1934)
8 Vậy, ngươi hãy kể thầy tế-lễ như thánh, vì người dâng thực-vật của Đức Chúa Trời người; người sẽ là thánh cho ngươi, vì ta, Đức Giê-hô-va, là thánh, Đấng làm cho các ngươi nên thánh vậy.

Sự thánh khiết của thầy tế lễ được nhấn mạnh một lần nữa. Ông được biệt riêng vì vai trò đặc biệt trong việc dâng của lễ và thực hiện những công việc thánh. Câu này cho thấy sự thánh khiết của thầy tế lễ không chỉ mang tính biểu tượng mà còn là điều Đức Chúa Trời đòi hỏi. Chính Đức Giê-hô-va là nguồn của sự thánh khiết và là Đấng làm cho dân Ngài nên thánh. Sự biệt riêng của thầy tế lễ phản ánh trực tiếp sự thánh khiết của Đức Chúa Trời giữa dân sự.

Lê-vi Ký 21:9 (VIE1934)
9 Nếu con gái thầy tế-lễ đi dâm-ô, tự làm nên kỵ-nữ, ấy là làm ô danh cho cha nó, nó phải bị thiêu lửa.

Câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tinh sạch trong gia đình của thầy tế lễ. Nếu con gái của thầy tế lễ tham dự vào hành vi dâm-ô, hành động của nàng không chỉ làm nhục chính mình mà còn làm ô danh chức vụ thánh của cha mình. Hình phạt thiêu bằng lửa cho thấy mức độ nghiêm trọng mà sự ô-uế về đạo đức được xem xét, đặc biệt khi nó ảnh hưởng đến những người có liên hệ với sự phục vụ Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 21:10-12 (VIE1934)
10 Thầy tế-lễ được quyền trọng hơn các anh em mình, — đã được rưới dầu-xức trên đầu mình, được biệt riêng ra thánh, để mặc mình bằng bộ áo thánh, — chẳng nên để đầu trần và xé áo mình.
11 Người chớ đi đến cùng một kẻ chết, chớ vì cha hay mẹ mà làm mình ra ô-uế.
12 Người chẳng nên đi ra khỏi nơi thánh, đừng làm cho nơi thánh của Đức Chúa Trời mình ra ô-uế, vì cái mão dầu-xức của Đức Chúa Trời vẫn ở trên đầu người: Ta là Đức Giê-hô-va.

Thầy tế lễ thượng phẩm, vì được xức dầu và biệt riêng đặc biệt, phải giữ một tiêu chuẩn còn cao hơn các thầy tế lễ thông thường. Ông không được tham dự vào những tập tục tang chế như để đầu trần hoặc xé áo, cũng không được đến gần người chết, kể cả cha mẹ mình. Chức vụ của ông thánh đến mức ông không được rời khỏi nơi thánh hoặc làm ô-uế nơi thánh của Đức Chúa Trời. Điều này nhấn mạnh tính liên tục và không bị gián đoạn của chức vụ thánh mà ông được giao phó.

Lê-vi Ký 21:13-15 (VIE1934)
13 Người phải cưới gái đồng-trinh làm vợ.
14 Người chẳng nên cưới đờn-bà góa, bị để, dâm-ô hay là kỵ-nữ, nhưng phải cưới một người đồng-trinh trong vòng dân-sự mình.
15 Người chẳng nên làm ô danh dòng-họ mình giữa dân-sự người, vì ta là Đức Giê-hô-va làm cho người nên thánh.

Thầy tế lễ thượng phẩm phải cưới một người nữ đồng trinh trong dân mình, bảo đảm dòng dõi của thầy tế lễ thượng phẩm được giữ trong khuôn khổ thánh khiết được quy định. Ông không được cưới người góa, người bị chồng bỏ, người bị xem là ô-uế hay kỵ-nữ. Những hạn chế này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tinh sạch và thánh khiết không chỉ trong chính thầy tế lễ mà còn trong dòng dõi của ông, nhằm duy trì địa vị thánh của dòng tế lễ.

Lê-vi Ký 21:16-18 (VIE1934)
16 Đức Giê-hô-va còn phán cùng Môi-se rằng:
17 Hãy nói cùng A-rôn mà rằng: Phàm ai trong dòng-họ ngươi, trải các đời, có một tật-bịnh trong thân-thể, chớ đến gần mà dâng thực-vật cho Đức Chúa Trời mình.
18 Phàm ai có một tật không được đến gần, như đây: người mù, què, sệp mũi hay là tứ-chi không đều;

Ở đây, những người có một số khuyết tật thân thể không được thực hiện chức vụ dâng của lễ trong nơi thánh. Điều này không phải là sự phản ánh về giá trị của con người, nhưng mang tính biểu tượng về sự trọn vẹn cần được thể hiện trong chức vụ tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời muốn nơi thánh và công việc được thực hiện tại đó phản ánh sự thánh khiết của Ngài, nên có những giới hạn được đặt ra đối với việc phục vụ trực tiếp trong chức tế lễ.

Lê-vi Ký 21:19-20 (VIE1934)
19 người gãy chơn hay gãy tay,
20 người có bướu hay là lỏng-khỏng, có vảy cá mắt hay là có ghẻ chốc, có lát hay là có hòn nang dập.

Những câu này tiếp tục liệt kê những tình trạng thân thể khiến một người trong dòng tế lễ không được thực hiện một số chức vụ dâng của lễ. Một lần nữa, trọng tâm là sự trọn vẹn mang tính biểu tượng được đòi hỏi trong chức tế lễ. Những người này vẫn có thể thuộc về gia đình tế lễ, nhưng bị giới hạn trong một số công việc liên quan trực tiếp đến những điều thánh của Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 21:21-23 (VIE1934)
21 Phàm con cháu thầy tế-lễ A-rôn, có tật trong mình, không được đến gần dâng của-lễ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Nếu có một tật trong mình, không được đến gần dâng thực-vật cho Đức Chúa Trời mình.
22 Người được ăn thực-vật của Đức Chúa Trời mình, là các vật chí-thánh và các vật biệt riêng ra thánh;
23 nhưng không được đi đến bức màn, và cũng không được đi đến gần bàn-thờ, vì có tật nơi mình. Người chớ làm các nơi thánh ta ra ô-uế, vì ta, Đức Giê-hô-va, làm các nơi đó nên thánh.

Mặc dù những thầy tế lễ có tật nơi thân thể không được dâng của lễ hoặc đến gần một số khu vực thánh, họ vẫn được phép ăn những thực-vật của Đức Chúa Trời, kể cả những vật chí-thánh và những vật biệt riêng ra thánh. Sự phân biệt này cho thấy họ vẫn thuộc về gia đình tế lễ và được dự phần vào những phước của chức vụ ấy, trong khi những giới hạn đối với việc phục vụ trực tiếp trong đền thánh vẫn được duy trì để bảo vệ sự thánh khiết của các nghi lễ.

Lê-vi Ký 21:24 (VIE1934)
24 Môi-se nói như vậy cho A-rôn và các con trai người, cùng cho cả dân Y-sơ-ra-ên.

Môi-se trung tín truyền lại cho A-rôn, các con trai ông và toàn thể dân Y-sơ-ra-ên những mạng lệnh mà Đức Chúa Trời đã ban. Việc công bố những luật này cho cả cộng đồng bảo đảm rằng mọi người đều hiểu vai trò đặc biệt của các thầy tế lễ và những tiêu chuẩn về sự thánh khiết được Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi họ. Toàn thể cộng đồng cần biết những quy định này, vì chúng liên quan đến việc duy trì sự tinh sạch của chức tế lễ và sự thờ phượng Đức Chúa Trời đúng đắn.

bottom of page