top of page

Lê-vi Ký 23

Lê-vi Ký 23 trình bày những kỳ lễ đã được Đức Giê-hô-va chỉ định mà dân Y-sơ-ra-ên phải giữ. Những kỳ nhóm hiệp thánh này được định làm những thời kỳ thờ phượng, nghỉ ngơi và suy ngẫm về sự chu cấp cùng sự giải cứu của Đức Chúa Trời. Chương này được sắp xếp theo những ngày tháng và thực hành cụ thể, liên kết các kỳ lễ này với chu kỳ nông nghiệp, những biến cố lịch sử và những bài học thuộc linh dành cho Y-sơ-ra-ên.

Lê-vi Ký 23:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
2 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va các ngươi hãy rao-truyền ra là các hội thánh.
3 Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm-hiệp thánh; đừng làm một công-việc gì; ấy là lễ sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở.

Chương này bắt đầu bằng việc nhấn mạnh rằng các kỳ lễ không chỉ là những sự kiện văn hóa, mà là những thời kỳ được Đức Chúa Trời chỉ định cho sự thờ phượng. Ngày Sa-bát hằng tuần, được nhắc đến trước các kỳ lễ khác, đặt nền tảng cho tất cả. Đây là một lời nhắc nhở hằng tuần về sự sáng tạo và sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời. Đó là ngày nhóm hiệp thánh và nghỉ ngơi, trong đó không được làm việc. Ngày Sa-bát làm nền cho các kỳ lễ khác, nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên rằng căn tính của họ được đặt nền trên sự nghỉ ngơi và sự chu cấp của Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 23:4-5 (VIE1934)
4 Nầy là những lễ của Đức Giê-hô-va, tức những sự nhóm-hiệp thánh, các ngươi phải rao-truyền ra khi đến kỳ nhứt định.
5 Đến ngày mười bốn tháng giêng, vào buổi chiều tối, ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va;

Những câu này thiết lập thời điểm của Lễ Vượt Qua, một kỳ lễ quan trọng của người Do Thái, đánh dấu thời điểm Đức Chúa Trời giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập. “Buổi chiều tối” ở đây được hiểu là khoảng thời gian giữa lúc mặt trời lặn và đêm xuống, theo cách hiểu trong truyền thống Do Thái là khoảng thời gian từ khoảng 3 giờ chiều đến lúc mặt trời lặn. Thời điểm này có ý nghĩa vì nó tương ứng với sự chết trong tương lai của Giê-su, Chiên Con Vượt Qua thật. Giê-su chết vào khoảng 3 giờ chiều trong ngày Lễ Vượt Qua (Ma-thi-ơ 27:46-50), làm ứng nghiệm biểu tượng về con chiên sinh tế mà huyết của nó đã cứu dân Y-sơ-ra-ên tại Ai Cập. Sự chết của Ngài vào đúng thời điểm này báo trước cách sự hy sinh của Ngài sẽ đem đến sự giải cứu cuối cùng khỏi tội lỗi cho nhân loại.

Lê-vi Ký 23:6-8 (VIE1934)
6 qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ bánh không men để kính-trọng Đức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày.
7 Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự nhóm-hiệp thánh, chẳng nên làm một công-việc xác-thịt.
8 Trong bảy ngày các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên; đến ngày thứ bảy, sẽ có một sự nhóm-hiệp thánh nữa, các ngươi đừng làm một công-việc xác-thịt nào hết.

Lễ Bánh Không Men ngay sau Lễ Vượt Qua và kéo dài bảy ngày. Cả ngày thứ nhất lẫn ngày thứ bảy đều là những ngày nghỉ ngơi và thờ phượng. Mạng lịnh phải ăn bánh không men, vốn tượng trưng cho sự tinh sạch và sự biệt khỏi tội lỗi (men thường tượng trưng cho tội lỗi trong Kinh Thánh), làm nổi bật nhu cầu về sự thanh sạch thuộc linh khi họ bước vào sự tự do.

Lễ Bánh Không Men tìm thấy sự ứng nghiệm cuối cùng trong Giê-su Christ. Cũng như dân Y-sơ-ra-ên được giải cứu khỏi ách nô lệ tại Ai Cập, Đấng Christ giải cứu chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Bánh không men tượng trưng cho một đời sống thoát khỏi quyền lực của tội lỗi, điều được thực hiện nhờ sự hy sinh của Đấng Christ. Trong Tân Ước, Phao-lô làm rõ mối liên hệ này trong 1 Cô-rinh-tô 5:7-8: “Vì Đấng Christ là Chiên Con của Lễ Vượt Qua chúng ta, đã bị giết thay cho chúng ta. Vậy, hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, cũng đừng dùng men của sự gian ác và độc dữ, nhưng hãy dùng bánh không men của sự chân thật và thanh sạch.” Ở đây, Phao-lô khích lệ các tín đồ sống đời sống tinh sạch và chân thành, không có “men” của tội lỗi, bởi vì Đấng Christ, Chiên Con Vượt Qua thật, đã được dâng rồi. Cũng như dân Y-sơ-ra-ên ăn bánh không men để biểu thị sự đoạn tuyệt với Ai Cập, chúng ta được kêu gọi sống trong sự tự do khỏi tội lỗi vì Đấng Christ đã giải cứu chúng ta. Theo ý nghĩa thuộc linh này, Lễ Bánh Không Men không chỉ tượng trưng cho sự giải cứu khỏi Ai Cập mà còn tượng trưng cho việc quyền lực của tội lỗi trên chúng ta bị chấm dứt nhờ công việc chuộc tội của Đấng Christ. Sự chết và sự sống lại của Đấng Christ đem đến sự chấm dứt quyền thống trị của tội lỗi đối với những người tin Ngài.

Lê-vi Ký 23:9-11 (VIE1934)
9 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
10 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã vào xứ mà ta sẽ ban cho, và đã gặt mùa-màng rồi, thì hãy đem đến cho thầy tế-lễ một bó lúa đầu mùa của các ngươi.
11 Qua ngày sau lễ sa-bát, thầy tế-lễ sẽ dâng bó lúa đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu cho bó lúa đó được nhậm.

Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa đánh dấu sự bắt đầu của mùa gặt và là cách dân Y-sơ-ra-ên nhìn nhận Đức Chúa Trời là Đấng chu cấp. Bằng việc dâng bó lúa đầu mùa, họ bày tỏ đức tin rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục chu cấp. Hành động đưa bó lúa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va là một cử chỉ cảm tạ và biệt riêng toàn bộ mùa gặt cho Ngài. Theo Lê-vi Ký 23:10-11, nghi thức này diễn ra vào ngày sau ngày Sa-bát tiếp theo Lễ Vượt Qua, nghĩa là thường được giữ vào ngày 16 tháng Ni-san. Trong Tân Ước, kỳ lễ này được ứng nghiệm trong sự phục sinh của Giê-su, như 1 Cô-rinh-tô 15:20 mô tả Đấng Christ là “trái đầu mùa của những người ngủ.” Cũng như bó lúa đầu mùa được dâng trong đức tin hướng đến mùa gặt sắp đến, sự phục sinh của Giê-su vào ngày thứ nhất sau ngày Sa-bát sau Lễ Vượt Qua hướng đến lời hứa về sự sống đời đời và sự sống lại trong tương lai của những người tin. Vì vậy, Ngày Dâng Hoa Quả Đầu Mùa trở thành một hình ảnh tiên tri về sự chiến thắng sự chết của Giê-su và sự bảo đảm về một mùa gặt thuộc linh sẽ đến.

Lê-vi Ký 23:12-14 (VIE1934)
12 Chính ngày dâng bó lúa đưa qua đưa lại đó, các ngươi cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một chiên con giáp năm, không tì-vít chi, đặng làm của-lễ thiêu;
13 và dâng thêm một của-lễ chay bằng hai phần mười bột lọc chế dầu, làm của-lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, với một phần tư hin rượu, làm lễ quán.
14 Các ngươi chớ ăn hoặc bánh, hoặc hột lúa rang, hoặc lúa đương ở trong gié cho đến chính ngày nầy, tức là ngày các ngươi đem dâng của-lễ cho Đức Chúa Trời mình. Mặc dầu ở nơi nào, ấy là một lệ định đời đời cho con cháu các ngươi.

Của lễ gắn liền với Lễ Dâng Hoa Quả Đầu Mùa bao gồm một chiên con không tì vết, tượng trưng cho sự tinh sạch và sinh tế. Các của lễ chay và lễ quán cũng là một phần của sự mừng lễ này, tượng trưng cho sự đầy dẫy của mùa gặt. Mạng lịnh không được ăn sản vật mới cho đến khi của lễ được dâng lên nhấn mạnh nguyên tắc rằng mọi phước lành đều đến từ Đức Chúa Trời và trước hết phải được dâng trở lại cho Ngài.

Lê-vi Ký 23:15-16 (VIE1934)
15 Kể từ ngày sau lễ sa-bát, là ngày đem bó lúa dâng đưa qua đưa lại, các ngươi sẽ tính bảy tuần-lễ trọn:
16 các ngươi tính năm mươi ngày cho đến ngày sau của lễ sa-bát thứ bảy, thì phải dâng một của-lễ chay mới cho Đức Giê-hô-va.

Năm mươi ngày sau Lễ Dâng Hoa Quả Đầu Mùa, dân Y-sơ-ra-ên phải giữ Lễ Các Tuần, tức Lễ Ngũ Tuần. Đây là sự mừng vui về mùa gặt đã hoàn tất, tượng trưng cho sự dư dật và chu cấp của Đức Chúa Trời. Việc tính số ngày giữa mùa gặt đầu và mùa gặt sau liên kết hai sự kiện quan trọng này, nhắc nhở Y-sơ-ra-ên rằng các phước lành của Đức Chúa Trời liên tục tuôn đổ và đòi hỏi sự cảm tạ cùng lòng trung tín không ngừng.

Trong Tân Ước, Lễ Ngũ Tuần tìm thấy sự ứng nghiệm cuối cùng qua sự tuôn đổ Thánh Linh. Cũng như kỳ lễ đánh dấu sự hoàn tất của mùa gặt vật chất, sự đến của Thánh Linh vào Lễ Ngũ Tuần đánh dấu sự bắt đầu của mùa gặt thuộc linh—sự quy tụ các linh hồn vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Thánh Linh là sự chu cấp của Đức Chúa Trời để ban quyền năng cho các tín đồ, tiếp tục các phước lành của Ngài trong giao ước mới.

Hơn nữa, cũng như Lễ Các Tuần tưởng niệm việc ban Luật Pháp cho Môi-se tại Si-na-i, Lễ Ngũ Tuần giờ đây kỷ niệm sự ban Thánh Linh, Đấng viết luật pháp của Đức Chúa Trời vào lòng các tín đồ. Sự kiện Lễ Ngũ Tuần cũng hiệp nhất những người thuộc nhiều dân tộc khác nhau, tượng trưng cho tính phổ quát của Phúc Âm, đồng thời đảo ngược sự hỗn loạn về ngôn ngữ tại Ba-bên. Vì vậy, Lễ Ngũ Tuần nối liền giao ước cũ và giao ước mới, đánh dấu mùa gặt thuộc linh của các linh hồn và sự khai sinh Hội Thánh qua công việc của Thánh Linh.

Lê-vi Ký 23:17-18 (VIE1934)
17 Các ngươi hãy từ nhà mình đem đến hai ổ bánh đặng làm của-lễ dâng đưa qua đưa lại; bánh đó làm bằng hai phần mười bột lọc hấp có pha men: ấy là của đầu mùa dâng cho Đức Giê-hô-va.
18 Các ngươi cũng phải dâng luôn với bánh, bảy chiên con giáp năm chẳng tì-vít chi, một con bò tơ, và hai con chiên đực với của-lễ chay và lễ quán cặp theo, đặng làm của-lễ thiêu tế Đức Giê-hô-va: ấy là một của-lễ dùng lửa xông, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.

Vào Lễ Ngũ Tuần, hai ổ bánh làm từ hoa quả đầu mùa của mùa gặt lúa mì được đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Những ổ bánh này, không giống bánh của Lễ Vượt Qua, được làm có men, có thể tượng trưng cho sự phát triển và mở rộng của Y-sơ-ra-ên. Những của lễ đi kèm rất phong phú, nhấn mạnh sự thánh khiết của dịp này và nhu cầu nhìn nhận sự chu cấp của Đức Chúa Trời bằng cả lòng biết ơn lẫn sự kính trọng.

Lê-vi Ký 23:19-21 (VIE1934)
19 Các ngươi cũng phải dâng một con dê đực đặng làm của-lễ chuộc tội, và hai chiên con giáp năm, đặng làm của-lễ thù-ân.
20 Thầy tế-lễ sẽ lấy các của-lễ đó với hai ổ bánh bằng lúa đầu mùa, và hai chiên con, dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; các vật đó sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và thuộc về thầy tế-lễ.
21 Các ngươi hãy rao truyền sự nhóm-hiệp trong chánh một ngày đó; phải có một sự nhóm-hiệp thánh, chớ nên làm một công-việc xác-thịt nào. Ấy là một lệ định đời đời cho dòng-dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.

Lễ Các Tuần bao gồm cả của lễ chuộc tội và của lễ thù ân. Của lễ chuộc tội biểu thị nhu cầu được chuộc tội, trong khi của lễ thù ân tượng trưng cho sự hòa thuận và mối thông công với Đức Chúa Trời. Các của lễ được đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, cho thấy tất cả các sinh tế đều phải được biệt riêng cho Ngài. Ngày này được biệt riêng làm một sự nhóm hiệp thánh, một thời gian nghỉ ngơi và vui mừng về sự ban cho dư dật của Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 23:22 (VIE1934)
22 Khi các ngươi gặt lúa trong xứ mình, chớ gặt tận đầu đồng, và chớ mót lúa sót lại; hãy để phần đó cho người nghèo và cho kẻ khách ngoại-bang: Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.

Câu này đưa ra nguyên tắc chu cấp cho người nghèo và người ngoại bang. Dân Y-sơ-ra-ên được truyền phải để lại một phần mùa gặt trên đồng để những người thiếu thốn có thể đến mót. Thực hành này làm nổi bật sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với công lý và sự chăm sóc những người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đây là một cách chia sẻ những phước lành của mùa gặt với những người có thể không có đất đai riêng.

Lê-vi Ký 23:23-25 (VIE1934)
23 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
24 hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ngày mồng một tháng bảy, sẽ có cho các ngươi một ngày nghỉ, một lễ kỷ-niệm lấy tiếng kèn thổi mà rao-truyền, tức là một sự nhóm-hiệp thánh vậy.
25 Chớ làm một công-việc xác-thịt nào; phải dâng các của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.

Lễ Thổi Kèn được giữ vào ngày đầu tiên của tháng thứ bảy. Nó đánh dấu sự bắt đầu của một thời kỳ trang nghiêm để suy xét, hướng đến Ngày Chuộc Tội. Tiếng kèn được thổi như một lời nhắc nhở về sự hiện diện và quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Ngày này được biệt riêng làm một sự nhóm hiệp thánh, đòi hỏi phải nghỉ khỏi công việc và dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va.

Lễ Thổi Kèn được xem là đã được ứng nghiệm một phần qua sứ điệp cảnh báo về sự phán xét điều tra bắt đầu vào năm 1844. Nó tượng trưng cho lời kêu gọi ăn năn và chuẩn bị cho sự phán xét sắp đến cùng sự trở lại cuối cùng của Đấng Christ. Ellen White nhấn mạnh tầm quan trọng của lời cảnh báo này: “Những sứ điệp trang trọng đã được ban ra theo thứ tự trong sách Khải Huyền phải chiếm vị trí đầu tiên trong tâm trí của dân Đức Chúa Trời. Không điều gì khác được phép chiếm lấy sự chú ý của chúng ta... Tiếng kèn phải thổi lên một âm thanh rõ ràng, và cả thế giới phải được cảnh báo” (The Great Controversy, tr. 594). Sự ứng nghiệm cuối cùng được trông đợi vào Lần Đến Thứ Hai, khi tiếng kèn của Đức Chúa Trời vang lên, báo hiệu sự sống lại của những người chết và sự quy tụ những người được cứu (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16). Vì vậy, trong khi khía cạnh cảnh báo thuộc linh đã được ứng nghiệm, biến cố cuối cùng là sự trở lại của Đấng Christ vẫn còn ở tương lai.

Lê-vi Ký 23:26-28 (VIE1934)
26 Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng:
27 Ngày mồng mười tháng bảy nầy là ngày lễ chuộc tội; các ngươi sẽ có sự nhóm-hiệp thánh; hãy ép tâm-hồn mình và dâng cho Đức Giê-hô-va các của-lễ dùng lửa dâng lên.
28 Ngày đó chẳng nên làm công-việc nào, vì là ngày chuộc tội, trong ngày đó phải làm lễ chuộc tội cho các ngươi trước mặt Giê-hô-va, Đức Chúa Trời mình.

Ngày Chuộc Tội là ngày trang nghiêm nhất trong lịch Do Thái. Đó là ngày ăn năn của cả quốc gia, khi dân Y-sơ-ra-ên được truyền phải “ép tâm hồn mình,” có lẽ qua việc kiêng ăn và than khóc về tội lỗi. Trọng tâm là tìm kiếm sự chuộc tội và hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, khi thầy tế lễ cả dâng các của lễ để làm sạch dân khỏi tội lỗi. Không được làm việc, nhấn mạnh tính nghiêm trọng của ngày này.

Ngày Chuộc Tội cũng được xem là có sự ứng nghiệm một phần trong sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá và chức vụ tiếp tục của Ngài với tư cách Thầy Tế Lễ Cả của chúng ta trong đền thánh trên trời. Sự phán xét điều tra bắt đầu vào năm 1844 là Ngày Chuộc Tội đối hình, trong đó Đấng Christ đang làm sạch đền thánh trên trời và chuẩn bị xóa bỏ tội lỗi một cách hoàn toàn. Ellen White viết: “Như trong thời xưa, tội lỗi của dân sự được đặt bởi đức tin trên của lễ chuộc tội và qua huyết của nó được chuyển giao theo hình bóng vào đền thánh trên đất, thì trong giao ước mới, tội lỗi của những người ăn năn được đặt bởi đức tin trên Đấng Christ và thật sự được chuyển giao vào đền thánh trên trời” (The Great Controversy, tr. 421). Sự ứng nghiệm trọn vẹn sẽ đến khi Đấng Christ hoàn tất tiến trình phán xét và trở lại để tiêu diệt tội lỗi vĩnh viễn và quy tụ dân Ngài.

Ngày Chuộc Tội cũng có thể đại diện cho sự chấm dứt tội lỗi trong bản tính của 144.000 người, một nhóm được mô tả trong Khải Huyền 7 và Khải Huyền 14. Điều này gắn liền với tiến trình thanh tẩy hoàn toàn và chuẩn bị cho sự trở lại của Đấng Christ, đặc biệt đối với thế hệ tín đồ cuối cùng sống qua những biến cố cuối cùng của lịch sử thế giới.

Sự Thanh Tẩy và 144.000:

Sự Hoàn Thiện Bản Tính và Thanh Tẩy: Vào Ngày Chuộc Tội, thầy tế lễ cả bước vào Nơi Chí Thánh để làm sạch đền thánh và theo hình bóng loại bỏ tội lỗi của dân sự. Ellen White liên hệ điều này với sự thanh tẩy cuối cùng của dân Đức Chúa Trời. Bà viết: “Bây giờ, trong khi Thầy Tế Lễ Cả của chúng ta đang làm lễ chuộc tội cho chúng ta, chúng ta phải tìm cách trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ. Không phải ngay cả một tư tưởng nào cũng có thể khiến Đấng Cứu Chuộc chúng ta chịu khuất phục trước quyền lực của sự cám dỗ. Sa-tan tìm thấy trong lòng con người một điểm nào đó để có thể chiếm chỗ đứng; một ham muốn tội lỗi nào đó được nuôi dưỡng, qua đó những cám dỗ của nó khẳng định quyền lực. Nhưng Đấng Christ đã phán về chính Ngài: ‘Kẻ cai trị thế gian này đang đến, và nó chẳng có gì trong Ta.’ (Giăng 14:30)” (The Great Controversy, tr. 623).

144.000 được mô tả là “không có sự gian dối trước ngai Đức Chúa Trời” (Khải Huyền 14:5), nghĩa là họ đã chiến thắng tội lỗi và được thanh tẩy hoàn toàn. Sự hoàn thiện bản tính này phản ánh công việc cuối cùng của Đấng Christ trong Ngày Chuộc Tội đối hình.

Sự Chấm Dứt Tội Lỗi trong Thế Hệ Cuối Cùng: 144.000 thường được xem là đại diện cho thế hệ cuối cùng, những người sẽ trải qua thời kỳ hoạn nạn mà không sa vào tội lỗi. Ellen White viết: “Miệng họ không có sự gian dối; vì họ không có sự chê trách trước ngai Đức Chúa Trời. Bây giờ là lúc phải chuẩn bị. Ấn Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ được đặt trên trán của một người nam hay người nữ ô uế. Nó sẽ không bao giờ được đặt trên trán của người nam hay người nữ tham vọng, yêu thế gian. Nó sẽ không bao giờ được đặt trên trán của những người nam hay nữ có môi miệng giả dối hoặc lòng dạ lừa dối” (Testimonies to Ministers, tr. 446).

Điều này cho thấy Ngày Chuộc Tội đại diện cho một thời kỳ mà sự thanh tẩy cuối cùng khỏi tội lỗi diễn ra, bảo đảm rằng dân Đức Chúa Trời, đặc biệt là 144.000, được chuẩn bị cho sự trở lại của Đấng Christ.

Sống Không Có Đấng Trung Bảo: Sau khi thời kỳ ân điển đóng lại, 144.000 sẽ sống qua một thời kỳ mà họ phải hoàn toàn nương cậy nơi sự công bình của Đấng Christ mà không có Đấng cầu thay. Ellen White mô tả thời kỳ này: “Khi Ngài rời khỏi đền thánh, sự tối tăm bao phủ cư dân trên đất. Trong thời kỳ đáng sợ ấy, người công bình phải sống trước mặt một Đức Chúa Trời thánh khiết mà không có Đấng cầu thay” (The Great Controversy, tr. 614).

Thời kỳ này tương ứng với giai đoạn cuối cùng của Ngày Chuộc Tội, khi 144.000 được đóng ấn hoàn toàn và tội lỗi đã được loại bỏ trọn vẹn khỏi bản tính của họ. Sự chiến thắng hoàn toàn của họ trên tội lỗi tượng trưng cho sự thanh tẩy trọn vẹn mà Ngày Chuộc Tội đem lại.

Sự Chiến Thắng Cuối Cùng Trên Tội Lỗi: Ellen White cũng nhấn mạnh rằng công việc của Đấng Christ trong đền thánh trên trời tập trung vào việc hoàn toàn loại bỏ tội lỗi khỏi đời sống của các tín đồ. Bà viết: “Đấng Christ đang chờ đợi với lòng khao khát sự bày tỏ chính Ngài trong Hội Thánh của Ngài. Khi bản tính của Đấng Christ được tái hiện hoàn toàn trong dân Ngài, thì Ngài sẽ đến để nhận họ làm thuộc về Ngài” (Christ’s Object Lessons, tr. 69).

144.000 phản chiếu bản tính hoàn hảo này và do đó đại diện cho sự ứng nghiệm cuối cùng của Ngày Chuộc Tội, khi tội lỗi không chỉ được chuộc mà còn được loại bỏ hoàn toàn khỏi lòng dân Đức Chúa Trời.

Tóm lại, Ngày Chuộc Tội có thể đại diện cho sự chấm dứt tội lỗi trong bản tính của 144.000, khi họ được thanh tẩy hoàn toàn và sẵn sàng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ellen White nhấn mạnh rằng trong giai đoạn cuối cùng của chức vụ Đấng Christ trong đền thánh trên trời, dân Đức Chúa Trời phải đạt được sự chiến thắng hoàn toàn trên tội lỗi, phản chiếu bản tính hoàn hảo của Đấng Christ. 144.000 là những người trải nghiệm sự thanh tẩy này và được chuẩn bị để sống không có Đấng Trung Bảo, biểu thị sự chấm dứt của tội lỗi cả trong thế gian lẫn trong bản tính của chính họ, dẫn đến sự trở lại của Đấng Christ.

Lê-vi Ký 23:29-30 (VIE1934)
29 Trong ngày đó, hễ ai không ép tâm-hồn mình, sẽ bị truất khỏi dân-sự mình.
30 Và hễ ai làm một công-việc gì, thì ta sẽ diệt họ khỏi dân-sự mình.

Những câu này nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc giữ Ngày Chuộc Tội. Những người không hạ mình hoặc làm việc trong ngày này sẽ bị truất khỏi dân sự hoặc bị diệt khỏi giữa họ, cho thấy hậu quả nghiêm trọng của việc xem thường các mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Ngày Chuộc Tội không phải là một điều tùy chọn; đó là thời điểm mọi cá nhân được kêu gọi suy xét mối quan hệ của mình với Đức Chúa Trời và tìm kiếm sự thương xót của Ngài.

Lê-vi Ký 23:31-32 (VIE1934)
31 Các ngươi chẳng nên làm công-việc chi hết, ấy là một lệ định đời đời cho dòng-dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.
32 Ấy sẽ là một lễ sa-bát, một ngày nghỉ cho các ngươi; các ngươi phải ép tâm-hồn mình. Ngày mồng chín tháng đó, các ngươi phải giữ lễ sa-bát mình, từ chiều nay đến chiều mai.

Ngày Chuộc Tội phải được giữ từ chiều ngày thứ chín đến chiều ngày thứ mười của tháng, nhấn mạnh tính thánh của ngày này. Đây là ngày hoàn toàn nghỉ ngơi và suy xét, củng cố tầm quan trọng của sự nghỉ ngơi như một phần của sự đổi mới thuộc linh. Việc này phải được giữ qua mọi thế hệ, biểu thị tầm quan trọng lâu dài của nó trong đời sống của Y-sơ-ra-ên.

Lê-vi Ký 23:33-36 (VIE1934)
33 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
34 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ lều-tạm, trải qua bảy ngày đặng tôn-kính Đức Giê-hô-va.
35 Ngày thứ nhứt sẽ có sự nhóm-hiệp thánh, các ngươi chẳng nên làm một công-việc xác-thịt nào.
36 Trong bảy ngày phải dâng các của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; qua ngày thứ tám, các ngươi có một sự nhóm-hiệp thánh nữa, cũng dâng của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Ấy sẽ là một hội trọng-thể; chớ làm một công việc xác thịt nào hết.

Lễ Lều Tạm, còn được gọi là Lễ Ở Lều, tưởng niệm cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng và sự phụ thuộc của họ vào Đức Chúa Trời. Trong bảy ngày, họ phải ở trong những nơi ở tạm thời để nhớ lại cuộc hành trình của tổ phụ họ. Ngày thứ nhất và ngày thứ tám đều là những ngày nghỉ ngơi và thờ phượng, được đánh dấu bằng các của lễ và những sự nhóm hiệp thánh. Lễ này mừng sự chu cấp và bảo vệ của Đức Chúa Trời trong thời gian họ ở trong đồng vắng.

Lễ Lều Tạm được hiểu là chưa được ứng nghiệm hoàn toàn. Trong khi hướng đến việc Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ ở cùng dân Ngài, nó có mối liên hệ với lời hứa của Đấng Christ trong Giăng 14:23, khi Ngài phán: “Nếu ai yêu mến Ta, người ấy sẽ giữ lời Ta; Cha Ta sẽ yêu người ấy, và Chúng Ta sẽ đến cùng người và làm chỗ ở trong người.” Điều này cho thấy mong muốn của Đức Chúa Trời được ở cùng các tín đồ cách thuộc linh qua Đấng Christ. Tuy nhiên, sự ứng nghiệm trọn vẹn sẽ xảy ra vào Lần Đến Thứ Hai, khi những người được cứu sẽ được quy tụ hoàn toàn vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời, mừng sự kết thúc của cuộc hành trình trên đất và bước vào sự sống đời đời trong Thành Thánh Giê-ru-sa-lem Mới (Khải Huyền 21:3). Ellen White viết: “Lễ Lều Tạm không chỉ là một lễ tưởng niệm mà còn mang tính điển hình... Nó hướng về ngày trọng đại của sự thu hoạch cuối cùng, khi Chúa của mùa gặt sai những người gặt của Ngài đến gom cỏ lùng lại để đốt, và thu lúa mì vào kho của Ngài” (Patriarchs and Prophets, tr. 541). Đây là lúc Đức Chúa Trời sẽ “ở trong trại” cùng dân Ngài đời đời.

Lê-vi Ký 23:37-38 (VIE1934)
37 Đó là những lễ trọng-thể của Đức Giê-hô-va, mà các ngươi phải rao-truyền là sự nhóm-hiệp thánh, đặng dâng cho Đức Giê-hô-va những của-lễ dùng lửa dâng lên, của-lễ thiêu, của-lễ chay, của-lễ thù-ân, lễ quán, vật nào đã định theo ngày nấy.
38 Ngoài ra, các ngươi phải cứ giữ lễ sa-bát của Đức Giê-hô-va, cứ dâng cho Ngài các lễ-vật mình, các của-lễ khấn-nguyện và lạc-ý.

Đoạn này nhắc lại rằng các kỳ lễ và những sự nhóm hiệp thánh được trình bày trong chương này là ngoài những ngày Sa-bát hằng tuần và những của lễ khác. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ các kỳ lễ để tôn trọng mạng lịnh của Đức Chúa Trời và bày tỏ lòng biết ơn về sự chu cấp cùng các phước lành của Ngài. Những của lễ này dành riêng cho các kỳ lễ và không nhằm thay thế những thực hành thờ phượng thường xuyên.

Lê-vi Ký 23:39-41 (VIE1934)
39 Nhưng đến ngày rằm tháng bảy, khi các ngươi đã thâu-hoạch thổ-sản mình rồi, hãy giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Bữa thứ nhứt sẽ là ngày nghỉ, và bữa thứ tám cũng sẽ là ngày nghỉ.
40 Bữa thứ nhứt, các ngươi phải lấy trái cây tốt, tàu chà-là, nhành cây rậm và cây dương-liễu, rồi vui-mừng trong bảy ngày trước mặt Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.
41 Mỗi năm, vào tháng bảy, các ngươi phải giữ lễ nầy cho Đức Giê-hô-va như vậy trong bảy ngày. Ấy là một lệ định đời đời cho dòng-dõi các ngươi.

Lễ Lều Tạm là một thời kỳ vui mừng, đánh dấu sự kết thúc của năm nông nghiệp. Dân sự phải đem các nhành cây và trái cây vào trong lễ mừng, tượng trưng cho lòng cảm tạ về mùa gặt. Kỳ lễ này không chỉ tưởng niệm sự bảo vệ của Đức Chúa Trời trong cuộc hành trình nơi đồng vắng mà còn mừng sự chu cấp liên tục của Ngài trong Đất Hứa. Sự nhấn mạnh vào niềm vui và sự nghỉ ngơi làm nổi bật bản chất của sự thờ phượng vừa mang tính suy xét vừa mang tính vui mừng.

Lê-vi Ký 23:42-43 (VIE1934)
42 Hết thảy ai sanh trong dòng Y-sơ-ra-ên sẽ ở nơi trại trong bảy ngày,
43 hầu cho dòng-dõi các ngươi biết rằng khi ta đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ta cho họ ở trong những trại: Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.

Những câu này mô tả mạng lịnh chính liên quan đến Lễ Lều Tạm. Dân Y-sơ-ra-ên phải ở trong những nơi ở tạm thời làm bằng nhành cây trong bảy ngày, như một lời nhắc nhở tượng trưng về thời gian họ sống trong đồng vắng sau khi ra khỏi Ai Cập. Mạng lịnh này không chỉ dành cho thế hệ đang sống lúc đó mà còn phải được truyền lại qua các thế hệ. Nó là một lời nhắc nhở về sự giải cứu của Đức Chúa Trời, sự chu cấp của Ngài và tầm quan trọng của việc ghi nhớ những phước lành Ngài đã ban trong quá khứ, bảo đảm rằng các thế hệ tương lai hiểu lịch sử của mình và mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 23:44 (VIE1934)
44 Ấy vậy, Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên biết các lễ của Đức Giê-hô-va là lễ nào.

Câu kết thúc này khép lại chương bằng cách nói rằng Môi-se đã trung tín truyền đạt cho dân Y-sơ-ra-ên những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời về các kỳ lễ. Điều này làm nổi bật vai trò của Môi-se như người trung gian truyền mạng lịnh của Đức Chúa Trời cho dân Ngài, bảo đảm rằng dân Y-sơ-ra-ên biết cách tôn kính và thờ phượng Đức Chúa Trời qua những kỳ lễ thánh này. Các kỳ lễ là một phần quan trọng trong đời sống tôn giáo của Y-sơ-ra-ên, giúp họ tưởng niệm những hành động cứu chuộc của Đức Chúa Trời và duy trì ý thức về cộng đồng cùng căn tính của mình.

bottom of page