
Lê-vi Ký 3
Lê-vi Ký 3 trình bày về của-lễ thù-ân, còn được gọi là của-lễ giao-hảo hay của-lễ tương giao. Đây là một của lễ tự nguyện được dâng để bày tỏ lòng biết ơn và mối tương giao với Đức Chúa Trời. Một con sinh được dâng và một phần của nó được chia sẻ giữa Đức Chúa Trời, thầy tế lễ và người dâng. Chương này giải thích những yêu cầu đối với con sinh được dùng làm của lễ, cách xử lý phần mỡ và ý nghĩa của nó. Chương nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dâng những phần tốt nhất cho Đức Chúa Trời và cho thấy của-lễ thù-ân tượng trưng cho sự hòa thuận và mối tương giao giữa Đức Chúa Trời với dân Ngài.
Lê-vi Ký 3:1-3 (VIE1934)
1 Phàm khi nào ai dâng của-lễ thù-ân bằng bò, hoặc đực hoặc cái, thì phải dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va, không tì-vít chi.
2 Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh của mình, rồi giết nó tại cửa hội-mạc; các con trai A-rôn, tức những thầy tế-lễ, sẽ rảy huyết chung-quanh trên bàn-thờ.
3 Do của-lễ thù-ân nầy, người sẽ dâng làm của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, mỡ chài và mỡ bộ lòng;
Các câu này mô tả thủ tục dâng của-lễ thù-ân, bắt đầu bằng việc chọn một con vật không tì-vít, tượng trưng cho sự tinh sạch và điều tốt nhất trong bầy. Việc đặt tay trên đầu con sinh biểu thị sự đồng nhất của người thờ phượng với của lễ, tượng trưng cho việc dâng chính mình cùng lòng biết ơn hoặc nhu cầu được hòa thuận với Đức Chúa Trời. Việc rảy huyết tượng trưng cho sự sống của con sinh được dâng cho Đức Chúa Trời, củng cố ý niệm về sự chuộc tội và sự hòa thuận giữa Đức Chúa Trời với con người. Phần mỡ, được xem là phần tốt nhất của con vật, được thiêu làm của lễ cho Đức Chúa Trời, cho thấy Ngài xứng đáng nhận phần tốt nhất.
Lê-vi Ký 3:4-5 (VIE1934)
4 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật nơi cạnh hông, và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai trái cật.
5 Các con trai A-rôn sẽ xông mấy món đó nơi bàn-thờ trên của-lễ thiêu đã chất trên củi chụm lửa rồi; ấy là một của-lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Những phần mỡ cùng các cơ quan đặc biệt như hai trái cật và phần bọc gan được tách riêng và dâng trên bàn thờ. Những phần này đại diện cho những phần sâu kín và quan trọng bên trong con vật, phản ánh tầm quan trọng của việc dâng cho Đức Chúa Trời những phần sâu kín nhất và có ý nghĩa nhất trong đời sống mình. Khi những phần này được thiêu, chúng trở nên “có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va”, biểu thị rằng của lễ được Ngài vui lòng và chấp nhận.
Lê-vi Ký 3:6-8 (VIE1934)
6 Nếu người dâng cho Đức Giê-hô-va của-lễ thù-ân bằng chiên, hoặc đực hoặc cái, thì phải dâng lên không tì-vít chi.
7 Vì của-lễ bằng chiên con thì phải dâng nó lên trước mặt Đức Giê-hô-va,
8 nhận tay mình trên đầu con sinh, rồi giết nó trước cửa hội-mạc; các con trai A-rôn sẽ rảy huyết chung-quanh trên bàn-thờ.
Các câu này mô tả của-lễ thù-ân khi người thờ phượng dâng một con chiên thay vì một con bò. Một lần nữa, con sinh phải không tì-vít, phản ánh nguyên tắc dâng điều tốt nhất cho Đức Chúa Trời. Thủ tục vẫn được giữ nguyên: đặt tay trên đầu con sinh, giết nó và rảy huyết chung quanh bàn thờ. Điều này nhấn mạnh tính nhất quán của nghi thức đối với các loại con sinh khác nhau và duy trì trọng tâm về sự tinh sạch, sự hòa thuận và mối tương giao với Đức Chúa Trời qua việc đổ huyết.
Lê-vi Ký 3:9-11 (VIE1934)
9 Do của-lễ thù-ân nầy, người phải dâng làm của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, mỡ và cái đuôi nguyên, chặt gần cuối xương sống, mỡ chài và mỡ bộ lòng;
10 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật nơi cạnh hông, và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai trái cật.
11 Thầy tế-lễ sẽ xông các món đó trên bàn-thờ; ấy là thực-vật về của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.
Phần này nhấn mạnh những phần cụ thể của con chiên phải được dâng, tương tự như những chỉ dẫn trước đó về của-lễ từ bầy gia súc. Cái đuôi nguyên của con chiên được đặc biệt nhắc đến như một phần của lễ. Điều này càng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dâng cho Đức Chúa Trời những phần tốt nhất và có giá trị nhất. Việc những phần này được thiêu trên bàn thờ được mô tả như “thực-vật về của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va”, biểu thị sự chấp nhận của Ngài đối với của lễ và mối tương giao của Ngài với người thờ phượng.
Lê-vi Ký 3:12-13 (VIE1934)
12 Nếu của-lễ người bằng con dê cái, thì phải dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va,
13 nhận tay mình trên đầu con sinh, rồi giết nó trước hội-mạc; các con trai A-rôn sẽ rảy huyết chung-quanh trên bàn-thờ.
Trong các câu này, của-lễ thù-ân bằng con dê được mô tả. Cũng như đối với những con vật khác, người dâng đặt tay trên đầu con sinh, biểu thị sự đồng nhất với của lễ. Sau đó con dê bị giết và các thầy tế lễ rảy huyết chung quanh bàn thờ. Huyết của con sinh biểu thị sự sống được dâng lên, hướng đến sự hòa thuận và phục hồi mối tương giao với Đức Chúa Trời.
Lê-vi Ký 3:14-16 (VIE1934)
14 Do của-lễ thù-ân nầy, người phải dâng làm của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, mỡ chài và mỡ bộ lòng,
15 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật nơi cạnh hông và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai trái cật.
16 Thầy tế-lễ sẽ xông các món đó trên bàn-thờ; ấy là thực-vật về của-lễ dùng lửa dâng lên có mùi thơm. Hết thảy mỡ đều thuộc về Đức Giê-hô-va.
Các câu này nhấn mạnh những phần cụ thể của con dê phải được dâng, đặc biệt là phần mỡ và các cơ quan bên trong, giống như những của lễ trước đó. Phần mỡ một lần nữa được tuyên bố là thuộc về Đức Giê-hô-va, cho thấy nó dành riêng cho Ngài như biểu tượng của phần tốt nhất và béo bổ nhất. “Mùi thơm” sinh ra khi những phần này được thiêu phản ánh sự vui lòng và chấp nhận của Đức Chúa Trời đối với của lễ.
Lê-vi Ký 3:17 (VIE1934)
17 Ấy đó là luật-lệ đời đời cho dòng-dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào: ngươi chẳng nên ăn mỡ hay là huyết.
Câu này thiết lập một luật lệ đời đời cho dân Y-sơ-ra-ên liên quan đến việc không được ăn mỡ và huyết. Điều đó nhấn mạnh tính thánh của phần mỡ, là phần thuộc về Đức Chúa Trời, và huyết, là biểu tượng của sự sống. Mệnh lệnh tránh ăn những phần này phản ánh địa vị được biệt riêng của chúng và nhu cầu dân Y-sơ-ra-ên phải tôn trọng những yêu cầu thánh của Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng cũng như trong đời sống hằng ngày. Điều này cũng hướng đến nguyên tắc rộng hơn về sự kính trọng sự sống và những của lễ được dâng cho Đức Giê-hô-va.

