top of page

Lê-vi Ký 4

Lê-vi Ký 4 giới thiệu về của-lễ chuộc tội, được dâng để chuộc những tội do lầm-lỡ mà dân Y-sơ-ra-ên đã phạm. Chương này trình bày những nghi thức khác nhau dành cho thầy tế lễ, cả hội-chúng, quan-trưởng và người trong dân-chúng; mỗi nhóm phải dâng những con sinh thích hợp để chuộc tội mình. Điều này bày tỏ ân điển của Đức Chúa Trời trong việc ban sự tha thứ ngay cả đối với những tội phạm do không biết hoặc không cố ý, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tinh sạch và vâng lời trong mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài.

Lê-vi Ký 4:1-2 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
2 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào ai lầm-lỡ mà phạm một trong các điều-răn của Đức Giê-hô-va, và làm đều chẳng nên làm;

Tại đây, Đức Chúa Trời phán với Môi-se và ban những chỉ dẫn cụ thể liên quan đến những tội phạm do lầm-lỡ. Đây là những vi phạm các điều-răn của Đức Chúa Trời xảy ra mà không có sự dự tính trước. Điểm nhấn mạnh là ngay cả sự không vâng lời ngoài ý muốn cũng cần được chuộc tội, phản ánh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và nhu cầu về sự tinh sạch giữa dân Ngài. Đoạn này giới thiệu về của-lễ chuộc tội, một hệ thống tế lễ cho phép dân Y-sơ-ra-ên phục hồi mối quan hệ với Đức Chúa Trời khi họ vô tình vi phạm luật pháp Ngài.

Lê-vi Ký 4:3 (VIE1934)
3 nếu là thầy tế-lễ chịu xức dầu rồi mà phạm tội, và vì cớ đó gây cho dân-sự phải mắc tội, thì vì tội mình đã phạm, người phải dâng cho Đức Giê-hô-va một con bò tơ không tì-vít chi, đặng làm của-lễ chuộc tội.

Nếu thầy tế lễ, là người lãnh đạo thuộc linh của dân sự, phạm một tội do lầm-lỡ, thì người phải dâng một con bò tơ không tì-vít làm của-lễ chuộc tội. Điều này có ý nghĩa đặc biệt vì thầy tế lễ đại diện cho dân sự trước mặt Đức Chúa Trời, và tội lỗi của người có thể ảnh hưởng đến cả cộng đồng. Con bò tơ là một con vật có giá trị lớn, nhấn mạnh tính nghiêm trọng của tội lỗi, đặc biệt khi tội lỗi được phạm bởi một người có địa vị cao như vậy. Của-lễ này cho thấy ngay cả những người lãnh đạo cũng cần được chuộc tội, để duy trì sự tinh sạch thuộc linh của cả dân tộc.

Lê-vi Ký 4:4-6 (VIE1934)
4 Người sẽ dẫn bò tơ đó đến cửa hội-mạc trước mặt Đức Giê-hô-va, nhận tay mình trên đầu nó, rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va.
5 Thầy tế-lễ chịu xức dầu rồi sẽ lấy huyết bò tơ đem vào trong hội-mạc,
6 nhúng ngón tay mình trong huyết, rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, đối ngang bức màn nơi đền thánh.

Thầy tế lễ đem con bò tơ đến cửa hội-mạc, tượng trưng rằng của-lễ được dâng trước mặt Đức Chúa Trời. Khi đặt tay trên đầu con bò, thầy tế lễ biểu thị việc chuyển tội lỗi và sự mắc tội của mình sang con vật. Việc giết con bò cho thấy tính nghiêm trọng của tội lỗi và cái giá phải trả cho sự chuộc tội. Việc rảy huyết trước bức màn, nơi sự hiện diện của Đức Chúa Trời được biểu lộ, tượng trưng cho sự làm sạch và thanh tẩy, đặc biệt đối với thầy tế lễ là người phục vụ như một người trung gian giữa Đức Chúa Trời và dân sự. Số bảy thường biểu thị sự trọn vẹn, cho thấy tính đầy đủ của tiến trình chuộc tội.

Lê-vi Ký 4:7 (VIE1934)
7 Đoạn, thầy tế-lễ sẽ bôi huyết trên các sừng của bàn-thờ xông hương ở trong hội-mạc, trước mặt Đức Giê-hô-va, và đổ hết thảy huyết bò tơ nơi chơn bàn-thờ về của-lễ thiêu, để trước cửa hội-mạc.

Huyết được bôi trên các sừng của bàn-thờ xông hương, là hình ảnh gắn liền với sự cầu nguyện và sự cầu thay, nối kết của-lễ với đời sống thuộc linh của dân sự. Huyết còn lại được đổ dưới chân bàn-thờ về của-lễ thiêu, biểu thị sự dâng hiến trọn vẹn của sự sống trong của-lễ. Nghi thức này cho thấy sự đổ huyết là cần thiết cho sự tha thứ tội lỗi; huyết tượng trưng cho sự sống, và việc đổ huyết chỉ ra cái giá của sự chuộc tội, hướng đến của-lễ tối hậu của Đấng Christ vì tội lỗi của nhân loại.

Lê-vi Ký 4:8-10 (VIE1934)
8 Người phải gỡ những mỡ của con bò dùng làm của-lễ chuộc tội, tức là mỡ chài và mỡ bộ lòng,
9 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật nơi cạnh hông, tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai trái cật,
10 như gỡ các phần nầy của bò tơ dùng làm của-lễ thù-ân; rồi thầy tế-lễ sẽ xông các món đó trên bàn-thờ về của-lễ thiêu.

Ở đây, sự chú ý tập trung vào mỡ và các phần bên trong của con bò. Theo biểu tượng Kinh Thánh, mỡ đại diện cho phần tốt nhất hoặc giàu có nhất, và được biệt riêng cho Đức Chúa Trời. Việc đốt những phần này trên bàn thờ biểu thị việc dâng những phần có giá trị nhất của con vật cho Đức Chúa Trời. Cách thức này tương tự như của-lễ thù-ân, trong đó những phần tốt nhất được dâng cho Đức Chúa Trời để tôn kính Ngài. Việc thiêu mỡ cũng biểu thị việc loại bỏ sự ô uế và tội lỗi, để người dâng được hòa giải với Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 4:11-12 (VIE1934)
11 Còn da, hết thảy thịt, đầu, giò, bộ lòng và phẩn,
12 tức con bò tơ nguyên, người phải đem ra khỏi trại-quân đến một nơi tinh-sạch, là chỗ họ đổ tro, rồi chất trên củi nơi lửa và thiêu nó đi: tức là thiêu nó tại chỗ đổ tro vậy.

Phần còn lại của con bò được đem ra ngoài trại-quân và thiêu đi. Điều này tượng trưng cho việc tội lỗi được loại bỏ khỏi cộng đồng. Bằng cách đem xác con vật ra ngoài trại-quân, sự ô uế và tội lỗi gắn liền với của-lễ chuộc tội được tượng trưng là bị loại khỏi dân sự. Lửa, là biểu tượng của sự thanh tẩy, thiêu hủy phần còn lại, cho thấy vấn đề tội lỗi được xử lý hoàn toàn. Điều này cũng hướng đến sự kiện sau này Đấng Christ bị đóng đinh bên ngoài thành, mang lấy tội lỗi của thế gian.

Lê-vi Ký 4:13-14 (VIE1934)
13 Nếu cả hội-chúng Y-sơ-ra-ên vì lầm-lỡ phạm một trong các điều-răn của Đức Giê-hô-va, và làm đều không nên làm, mà vốn không tự biết, và vì cớ đó phải mắc tội;
14 nếu tội phạm ấy vừa mới lộ ra, thì hội-chúng phải dâng một con bò tơ đặng làm của-lễ chuộc tội, dẫn nó đến trước hội-mạc.

Khi cả hội-chúng phạm tội mà không biết, họ vẫn phải chịu trách nhiệm. Khi sự vi phạm được biết đến, hội-chúng phải dâng một con bò tơ làm của-lễ chuộc tội thay cho toàn thể cộng đồng. Điều này nhấn mạnh trách nhiệm chung của dân tộc trong việc giữ các điều-răn của Đức Chúa Trời và tính nghiêm trọng của tội lỗi cộng đồng. Đồng thời, điều này cho thấy Đức Chúa Trời ban phương tiện để chuộc tội cho cả cộng đồng, không chỉ cho từng cá nhân, mở ra con đường hòa giải với Ngài.

Lê-vi Ký 4:15-16 (VIE1934)
15 Các hội-trưởng phải nhận tay mình trên đầu bò tơ, rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va;
16 thầy tế-lễ chịu xức dầu rồi sẽ đem huyết con bò tơ vào hội-mạc,

Các hội-trưởng, đại diện cho cả hội-chúng, đặt tay lên đầu con bò để tượng trưng cho việc chuyển sự mắc tội của dân sự sang con vật. Hành động này biểu lộ sự thừa nhận tội lỗi và nhu cầu được chuộc tội. Sau khi con bò bị giết, thầy tế lễ, với vai trò trung gian giữa Đức Chúa Trời và dân sự, đem huyết vào trong hội-mạc. Điều này minh họa tính nghiêm trọng của tội lỗi và sự cần thiết của huyết cho sự làm sạch và hòa giải với Đức Chúa Trời. Tiến trình này nhắc nhở dân sự về sự phụ thuộc của họ vào chức vụ tế lễ trong vấn đề được tha thứ.

Lê-vi Ký 4:17-18 (VIE1934)
17 nhúng ngón tay mình trong huyết, rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, đối ngang bức màn.
18 Đoạn, người sẽ bôi huyết trên các sừng của bàn-thờ trong hội-mạc trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi đổ huyết hết dưới chơn bàn-thờ về của-lễ thiêu, để trước cửa hội-mạc.

Thầy tế lễ rảy huyết trước bức màn, tượng trưng cho nhu cầu phải thanh tẩy nơi sự hiện diện của Đức Chúa Trời được biểu lộ. Việc rảy huyết bảy lần, với số bảy tượng trưng cho sự trọn vẹn, cho thấy tội lỗi được xử lý cách đầy đủ. Việc bôi huyết trên các sừng của bàn thờ liên kết sự chuộc tội với những lời cầu nguyện và sự thờ phượng của dân sự. Phần huyết còn lại được đổ dưới chân bàn thờ, biểu thị sự dâng sự sống cách trọn vẹn cho Đức Chúa Trời để chuộc tội. Nghi thức toàn diện này tượng trưng cho sự thanh tẩy hoàn toàn cần thiết để phục hồi mối quan hệ của cộng đồng với Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 4:19-21 (VIE1934)
19 Người cũng gỡ hết thảy mỡ đem xông trên bàn-thờ.
20 Cách dâng con bò tơ nầy cũng như cách dâng con bò dùng làm lễ chuộc tội: ấy vậy, thầy tế-lễ sẽ chuộc tội cho hội-chúng và tội hội-chúng sẽ được tha.
21 Đoạn, người phải đem con bò tơ đó ra ngoài trại-quân, thiêu đi như đã thiêu con bò tơ trước: ấy là của-lễ chuộc tội cho hội-chúng.

Thầy tế lễ thực hiện cùng một quy trình như đối với của-lễ chuộc tội của thầy tế lễ, nhấn mạnh tính nhất quán trong việc chuộc tội. Mỡ, đại diện cho phần tốt nhất của con vật, được thiêu trên bàn thờ như một của-lễ dâng cho Đức Chúa Trời. Phần còn lại của con bò được đem ra ngoài trại-quân và thiêu, tượng trưng cho việc tội lỗi được loại bỏ khỏi cộng đồng. Hành động của thầy tế lễ đem lại sự tha thứ cho cả hội-chúng, bày tỏ lòng thương xót của Đức Chúa Trời và sự dự liệu của Ngài cho sự hòa giải thông qua sự chuộc tội, ngay cả đối với những tội do cả dân tộc vô tình phạm phải.

Lê-vi Ký 4:22-23 (VIE1934)
22 Ví bằng một quan-trưởng nào, vì lầm-lỡ phạm một trong các điều-răn của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời mình, mà làm đều không nên làm, và vì cớ đó mắc tội;
23 khi nào người ta tỏ ra cho quan-trưởng đó biết tội mình đã phạm, thì người phải dẫn đến làm của-lễ mình, một con dê đực không tì-vít chi,

Khi một quan-trưởng hoặc người lãnh đạo dân sự phạm một tội do lầm-lỡ, người ấy cũng phải dâng một của-lễ. Điều này cho thấy người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm và ngay cả những người có quyền hành cũng không được miễn khỏi các điều-răn của Đức Chúa Trời. Khi biết được tội mình, quan-trưởng phải đem một con dê đực không tì-vít làm của-lễ chuộc tội. Việc dùng dê thay vì bò tơ phản ánh sự khác biệt về trách nhiệm và vị trí, nhưng vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tinh sạch và chuộc tội đối với những người có thẩm quyền.

Lê-vi Ký 4:24-25 (VIE1934)
24 nhận tay mình trên đầu dê đực đó, rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va tại nơi giết các con sinh dùng làm của-lễ thiêu; ấy là của-lễ chuộc tội.
25 Thầy tế-lễ sẽ nhúng ngón tay mình trong huyết của con sinh tế chuộc tội, bôi trên các sừng bàn-thờ về của-lễ thiêu, và đổ huyết dưới chơn bàn-thờ;

Cũng như những của-lễ chuộc tội khác, quan-trưởng đặt tay lên đầu con dê, tượng trưng cho việc chuyển sự mắc tội của mình sang con vật. Con dê sau đó bị giết, biểu thị tính nghiêm trọng của tội lỗi và cái giá của sự chuộc tội. Thầy tế lễ bôi huyết trên các sừng của bàn thờ nơi các của-lễ được dâng cho Đức Giê-hô-va, cho thấy mối liên hệ giữa của-lễ chuộc tội và sự thờ phượng của dân sự. Phần huyết còn lại được đổ dưới chân bàn thờ, tượng trưng cho một của-lễ hoàn toàn và trọn vẹn cho tội lỗi của quan-trưởng, đem lại sự tha thứ và thanh tẩy.

Lê-vi Ký 4:26 (VIE1934)
26 đoạn xông hết mỡ trên bàn-thờ như cách xông mỡ về của-lễ thù-ân. Ấy vậy, thầy tế-lễ sẽ chuộc tội cho người, và tội người sẽ được tha.

Mỡ của của-lễ, tượng trưng cho phần tốt nhất của con vật, được thiêu trên bàn thờ giống như trong của-lễ thù-ân. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dâng phần có giá trị nhất cho Đức Chúa Trời. Vai trò của thầy tế lễ trong việc chuộc tội một lần nữa được nhấn mạnh, cho thấy việc chuộc tội và tha thứ được thực hiện thông qua chức vụ tế lễ thay cho người phạm tội. Kết quả của nghi thức này là tội của quan-trưởng được tha và mối quan hệ của người với Đức Chúa Trời được phục hồi.

Lê-vi Ký 4:27-28 (VIE1934)
27 Nếu một người nào trong dân-chúng, vì lầm-lỡ phạm một trong các điều-răn của Đức Giê-hô-va mà làm đều không nên làm, và vì cớ đó phải mắc tội;
28 khi nào người ta tỏ cho người đó biết tội mình đã phạm, thì người phải vì cớ tội mình dẫn đến một con dê cái không tì-vít chi, dùng làm của-lễ,

Đối với người trong dân-chúng, tiến trình chuộc tội cũng tương tự như đối với các nhà lãnh đạo, nhưng một con dê cái được dùng thay vì dê đực. Sự khác biệt này phản ánh những vai trò khác nhau trong cộng đồng, nhưng mọi người đều phải chịu trách nhiệm như nhau trước mặt Đức Chúa Trời về tội lỗi của mình. Khi người đó biết được tội mình đã phạm, phải đem một con dê không tì-vít, tượng trưng cho sự tinh sạch. Của-lễ này cho phép người ấy tìm kiếm sự tha thứ và được phục hồi mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Nguyên tắc chuộc tội áp dụng cho mọi người, bất kể địa vị xã hội.

Lê-vi Ký 4:29-31 (VIE1934)
29 nhận tay mình trên đầu con sinh tế chuộc tội, rồi giết nó trong nơi giết con sinh dùng làm của-lễ thiêu.
30 Thầy tế-lễ sẽ nhúng ngón tay mình trong huyết, bôi trên các sừng bàn-thờ về của-lễ thiêu, và đổ hết huyết dưới chơn bàn-thờ;
31 rồi, gỡ hết mỡ như cách gỡ mỡ về của-lễ thù-ân, đem xông trên bàn-thờ, làm của-lễ có mùi thơm dâng cho Đức Giê-hô-va. Ấy vậy, thầy tế-lễ sẽ chuộc tội cho người đó, thì tội người sẽ được tha.

Tiến trình dành cho người trong dân-chúng cũng theo những bước giống như đối với quan-trưởng. Người phạm tội đặt tay lên đầu con sinh, biểu thị sự đồng nhất của mình với con sinh, rồi thầy tế lễ giết con vật thay cho người đó. Thầy tế lễ bôi huyết trên bàn thờ và thiêu mỡ, biểu thị việc phần tốt nhất của của-lễ được dâng cho Đức Chúa Trời. Việc thiêu mỡ thành một mùi thơm biểu thị sự đẹp lòng của Đức Chúa Trời khi Ngài nhận một của-lễ chân thành. Khi nghi thức hoàn tất, tội của người đó được tha, bày tỏ lòng thương xót và ân điển dành cho tất cả những ai tìm kiếm sự chuộc tội.

Lê-vi Ký 4:32-35 (VIE1934)
32 Nếu của-lễ chuộc tội người bằng chiên con, thì phải dâng một con cái chẳng tì-vít chi,
33 nhận tay mình trên đầu con sinh tế chuộc tội, rồi giết nó tại nơi giết con sinh dùng làm của-lễ thiêu.
34 Đoạn, thầy tế-lễ sẽ nhúng ngón tay mình trong huyết, bôi trên các sừng bàn-thờ về của-lễ thiêu, và đổ hết huyết dưới chơn bàn-thờ;
35 gỡ hết mỡ như cách gỡ mỡ của chiên con dùng làm của-lễ thù-ân, đem xông trên bàn-thờ như các của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Ấy vậy, thầy tế-lễ sẽ chuộc tội cho người đó, thì tội người sẽ được tha.

Một lựa chọn khác thay cho dê là chiên con, một lần nữa nhấn mạnh rằng những người khác nhau có thể dâng những con sinh khác nhau tùy theo khả năng của mình, nhưng nguyên tắc vẫn không thay đổi. Con sinh phải không tì-vít, tượng trưng cho sự tinh sạch. Việc đặt tay trên đầu chiên và dâng huyết của nó phản ánh thủ tục được áp dụng đối với những con vật khác. Thầy tế lễ giữ vai trò trung tâm trong việc sử dụng huyết và thiêu mỡ, hoàn tất tiến trình chuộc tội. Việc lặp lại cùng một tiến trình đối với những con vật khác nhau nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời mong muốn mọi người đều có thể nhận được sự tha thứ, bất kể địa vị xã hội hay hoàn cảnh kinh tế.

bottom of page