top of page

Lê-vi Ký 6

Lê-vi Ký 6 tiếp tục trình bày những luật lệ liên quan đến các của-lễ, tập trung vào của-lễ chuộc sự mắc lỗi, được dâng để chuộc những điều sai phạm đối với người khác hoặc đối với Đức Chúa Trời. Chương này cũng đưa ra những chỉ dẫn cho các thầy tế lễ về cách xử lý các của-lễ, nhấn mạnh sự thánh khiết cần có trong những nghi lễ thánh. Chương nhấn mạnh nhu cầu phải hoàn trả, sự thánh khiết của các của-lễ và vai trò của thầy tế lễ trong việc duy trì sự tinh sạch trong tiến trình dâng tế lễ.

Lê-vi Ký 6:1-3 (VIE1934)
1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
2 Khi nào ai mắc tội phạm đến Đức Giê-hô-va, hoặc nói dối cùng người lân-cận mình về đồ-vật gởi hay là tin mà giao cho, hoặc về một tài-vật trộm cắp, hoặc giựt lấy của người lân-cận mình;
3 hoặc nếu xí được một của mất mà nói dối về của đó, hoặc thề dối về một trong các việc người ta phạm tội được;

Các câu này trình bày những cách cụ thể mà một người có thể phạm tội đối với người khác, và qua đó cũng phạm tội đối với Đức Chúa Trời. Những tội như nói dối, trộm cắp, giựt lấy tài sản và thề dối được nêu rõ. Những hành động này không chỉ là những sai phạm đối với đồng loại mà còn vi phạm những mạng lệnh đạo đức mà Đức Chúa Trời đã đặt ra, cho thấy những tội phạm giữa người với người cuối cùng cũng là những tội phạm đến Đức Chúa Trời. Việc nhấn mạnh đến lời thề dối cho thấy tầm quan trọng nghiêm trọng của sự chân thật trong đời sống hằng ngày.

Lê-vi Ký 6:4-5 (VIE1934)
4 khi nào đã phạm và mắc lỗi như vậy, thì phải trả lại vật mình đã ăn-cắp, hoặc vật đã giựt lấy, hoặc vật đã tin gởi cho, hoặc vật làm mất xí được,
5 hoặc về các món người đã thề dối: người phải thường nguyên lại và phụ thêm một phần năm giá-trị mà giao cho chủ vật đó ngày nào mình dâng của-lễ chuộc sự mắc lỗi.

Ở đây, sự hoàn trả được nhấn mạnh như một phần quan trọng trong việc chuộc tội. Người có lỗi không chỉ phải trả lại những gì mình đã trộm cắp hoặc giựt lấy mà còn phải thêm một phần năm giá trị của nó để bồi thường. Nguyên tắc này bảo đảm người bị thiệt hại được bồi thường đầy đủ và công lý được duy trì. Sự hoàn trả cũng bày tỏ tính chân thật của sự ăn năn, thừa nhận điều sai trái đã làm, cho thấy sự công bình của Đức Chúa Trời bao gồm cả sự công bằng đối với người bị tổn hại.

Lê-vi Ký 6:6-7 (VIE1934)
6 Tùy theo sự đánh giá của ngươi, người ấy phải bắt trong bầy một chiên đực không tì-vít chi, dẫn đến thầy tế-lễ mà dâng cho Đức Giê-hô-va đặng làm của-lễ chuộc sự mắc lỗi mình;
7 thầy tế-lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va, thì lỗi người sẽ được tha, bất luận lỗi nào người đã mắc.

Ngoài việc hoàn trả, người có lỗi cũng phải đem một của lễ đến cho thầy tế lễ, cụ thể là một con chiên đực không tì-vít. Của lễ này cho phép thầy tế lễ làm lễ chuộc tội cho người phạm lỗi. Qua nghi lễ này, tội lỗi của người ấy được giải quyết cả theo chiều ngang—đối với người mà họ đã làm tổn hại—lẫn theo chiều dọc—trước mặt Đức Chúa Trời. Sự tha thứ được ban khi sự hoàn trả và của lễ chuộc sự mắc lỗi được thực hiện, cho thấy ân điển của Đức Chúa Trời đi cùng với sự ăn năn chân thành và sự chuộc tội.

Lê-vi Ký 6:8-9 (VIE1934)
8 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
9 Hãy truyền lịnh nầy cho A-rôn cùng các con trai người: Nầy là luật về của-lễ thiêu: Của-lễ thiêu phải ở trên đống lửa tại bàn-thờ trọn đêm cho đến sáng mai, và lửa của bàn-thờ giữ cho cháy luôn.

Đức Chúa Trời chuyển sang những chỉ dẫn dành cho các thầy tế lễ về của-lễ thiêu. Của lễ phải ở trên bàn thờ suốt đêm, trong khi lửa liên tục cháy. Điều này biểu thị tính liên tục của sự thờ phượng và sự tận hiến của dân Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời. Ngọn lửa luôn cháy tượng trưng cho sự hiện diện liên tục của Đức Chúa Trời và nhu cầu không ngừng về sự chuộc tội cùng mối tương giao với Ngài. Điều này cũng cho thấy trách nhiệm liên tục của các thầy tế lễ trong việc duy trì sự thánh khiết của các của-lễ và sự tận tâm đối với những mạng lệnh của Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 6:10-11 (VIE1934)
10 Thầy tế-lễ sẽ mặc áo lá trong và quần bằng vải gai che thân mình, rồi hốt tro của lửa đã đốt của-lễ thiêu trên bàn-thờ, và đổ gần bên bàn-thờ;
11 đoạn cổi áo nầy, mặc áo khác, đem tro nầy ra ngoài trại-quân, đổ trong một nơi tinh-sạch.

Các câu này đưa ra những chỉ dẫn chi tiết về việc xử lý phần tro còn lại của của-lễ thiêu. Thầy tế lễ phải mặc trang phục đặc biệt khi dọn tro, biểu thị tính thánh của công việc này. Sau khi gom tro, thầy tế lễ phải thay áo khác trước khi mang tro ra ngoài trại quân, đổ tại một nơi tinh-sạch. Điều này biểu tượng cho nhu cầu duy trì sự tinh sạch và phân cách khỏi những gì liên quan đến của lễ thiêu trong khi vẫn giữ sự tôn trọng đối với điều thánh.

Lê-vi Ký 6:12-13 (VIE1934)
12 Lửa trên bàn-thờ phải cháy luôn luôn, không nên tắt. Mỗi buổi sáng thầy tế-lễ sẽ lấy củi chụm lửa thêm, sắp của-lễ thiêu lên trên, và xông những mỡ về của-lễ thù-ân tại đó.
13 Lửa hằng cháy luôn luôn trên bàn-thờ, chẳng nên tắt.

Mệnh lệnh giữ cho lửa trên bàn thờ luôn cháy nhắc lại tính liên tục của hệ thống tế lễ của dân Y-sơ-ra-ên. Trách nhiệm của thầy tế lễ là chăm sóc ngọn lửa mỗi buổi sáng và tiếp tục dâng các của lễ, bảo đảm sự thờ phượng và sự chuộc tội không bị gián đoạn. Điều này tượng trưng cho mối quan hệ không ngừng giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài, nhắc họ về nhu cầu liên tục đối với sự hiện diện và sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Ngọn lửa trên bàn thờ là hình ảnh hữu hình về sự thánh khiết luôn hiện hữu của Đức Chúa Trời và nhu cầu không ngừng về sự chuộc tội.

Lê-vi Ký 6:14-15 (VIE1934)
14 Đây là luật về của-lễ chay: Các con trai A-rôn phải dâng của-lễ nầy tại phía trước bàn-thờ, trước mặt Đức Giê-hô-va.
15 Họ sẽ lấy một nắm bột lọc trong của-lễ chay và dầu, cùng hết thảy nhũ-hương ở trên, đem xông trên bàn-thờ làm kỷ-niệm về một của-lễ có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.

Các câu này giải thích cách dâng của-lễ chay. Thầy tế lễ lấy một phần bột, dầu và toàn bộ nhũ-hương đem thiêu trên bàn thờ. Việc dâng của lễ tạo ra “mùi thơm”, tượng trưng cho việc của lễ được Đức Chúa Trời vui lòng và chấp nhận. Hành động này làm kỷ niệm trước mặt Đức Chúa Trời, thừa nhận sự chu cấp của Ngài và lòng biết ơn của người thờ phượng. Điều đó nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thờ phượng có chủ ý, thơm ngát và cung kính, cho thấy các của lễ bày tỏ lòng tận hiến và kính sợ Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 6:16-18 (VIE1934)
16 Phần còn dư lại, A-rôn và các con trai người sẽ ăn không pha men, tại một nơi thánh, tức là ăn tại hành-lang của hội-mạc.
17 Họ không nên nấu bột đó với men; ấy là phần ta cho họ do trong các của-lễ ta, dùng lửa dâng lên; thật là một vật chí-thánh như của-lễ chuộc tội và của-lễ chuộc sự mắc lỗi.
18 Phàm người nam trong vòng con-cái A-rôn, sẽ ăn lấy; ấy là một luật-lệ đời đời cho dòng-dõi các ngươi về những của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; ai đụng đến những của-lễ đó sẽ nên thánh.

Các thầy tế lễ được phép ăn phần còn lại của của-lễ chay, nhưng chỉ ở một nơi thánh và không được có men. Sự hạn chế này nhấn mạnh tính thánh của của lễ. Việc ăn phần của lễ cho thấy các thầy tế lễ, với vai trò trung gian, được dự phần vào sự thánh khiết của của lễ. Lệnh cấm men, thường gắn với sự không tinh sạch, nhấn mạnh nhu cầu giữ cho các của lễ được tinh sạch. Việc ăn những của lễ này vừa là một đặc ân vừa là một trách nhiệm đối với các thầy tế lễ, đòi hỏi họ phải duy trì sự thánh khiết trong mọi công việc.

Lê-vi Ký 6:19-20 (VIE1934)
19 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
20 Nầy là của-lễ A-rôn và các con trai người phải dâng cho Đức Giê-hô-va trong ngày họ chịu phép xức dầu: Một phần mười ê-pha bột lọc làm của-lễ chay thường thường; sáng một phân nửa, chiều một phân nửa.

Đức Chúa Trời nêu rõ của-lễ hằng ngày mà A-rôn và các con trai ông phải dâng. Của-lễ chay này thuộc về chức vụ của họ với tư cách là các thầy tế lễ và bắt đầu từ ngày họ được xức dầu. Việc dâng vào buổi sáng và buổi chiều cho thấy tầm quan trọng của sự thờ phượng hằng ngày và sự tận hiến liên tục cho Đức Chúa Trời. Hành động dâng của lễ nhấn mạnh vai trò của các thầy tế lễ với tư cách là những người lãnh đạo thuộc linh, bảo đảm rằng chính họ cũng liên tục tham dự vào những công việc thánh mà họ thực hiện thay cho dân sự.

Lê-vi Ký 6:21-23 (VIE1934)
21 Của-lễ đó sẽ chiên sẵn trên chảo trộn với dầu; chín rồi, ngươi phải đem đến cắt ra từ miếng sẵn dâng lên có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
22 Con trai nào của A-rôn chịu xức dầu đặng thế cho người làm thầy tế-lễ cũng phải dâng của-lễ nầy. Ấy là một luật-lệ đời đời trước mặt Đức Giê-hô-va: họ phải xông hết trọn của-lễ nầy.
23 Phàm của-lễ chay của thầy tế-lễ nào thì phải đốt hết, không nên ăn.

Việc chuẩn bị và dâng của-lễ chay được trình bày chi tiết ở đây, với yêu cầu trộn với dầu và dâng để trở nên một mùi thơm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, của lễ đặc biệt này dành cho chính các thầy tế lễ phải được thiêu hoàn toàn và không được ăn. Điều này khác với những của-lễ chay khác mà các thầy tế lễ có thể được dự phần, cho thấy rằng các thầy tế lễ cũng như dân sự phải dâng mình hoàn toàn cho Đức Chúa Trời. Việc thiêu toàn bộ của lễ biểu thị sự tận hiến trọn vẹn được mong đợi nơi các thầy tế lễ trong sự phục vụ Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 6:24-26 (VIE1934)
24 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
25 Hãy truyền cho A-rôn và các con trai người rằng: Đây là luật về của-lễ chuộc tội: Phải giết con sinh tế chuộc tội trước mặt Đức Giê-hô-va tại nơi người ta giết con sinh về của-lễ thiêu; ấy là một vật chí-thánh.
26 Thầy tế-lễ đứng dâng con sinh tế chuộc tội, phải ăn thịt nó trong một nơi thánh, tức là trong hành-lang của hội-mạc.

Của-lễ chuộc tội được mô tả là một vật chí-thánh, và nơi dâng nó được quy định là cùng nơi với nơi người ta giết con sinh dùng làm của-lễ thiêu. Thầy tế lễ dâng của-lễ chuộc tội được phép ăn một phần của nó, nhưng chỉ trong một khu vực thánh đã được chỉ định. Điều này tiếp tục chủ đề về việc các thầy tế lễ dự phần vào sự thánh khiết của các của lễ. Việc họ ăn của lễ tượng trưng cho sự tham dự vào công việc chuộc tội và củng cố vai trò của họ là những người trung gian giữa dân sự và Đức Chúa Trời.

Lê-vi Ký 6:27-28 (VIE1934)
27 Hễ ai đụng đến thịt con sinh sẽ nên thánh, và nếu huyết nó văng trên áo nào, thì phải giặt áo đó trong một nơi thánh.
28 Nồi đất dùng nấu thịt đó sẽ đập bể đi, nếu nồi nấu bằng đồng thì sẽ cạo và rửa nước cho sạch.

Các câu này tập trung vào việc xử lý của-lễ chuộc tội. Vì nó là một vật chí-thánh, bất cứ sự tiếp xúc nào với nó đều liên quan đến yêu cầu về sự thánh khiết. Áo bị huyết văng vào phải được giặt trong một nơi thánh, biểu thị tính thánh của của lễ và nhu cầu phải loại bỏ bất cứ điều gì không tinh sạch. Những nồi đất bị đập bể và những nồi bằng đồng được cạo rửa cẩn thận càng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tinh sạch theo nghi lễ, bảo đảm không có điều gì không thánh làm ô uế của lễ hoặc những người tham dự.

Lê-vi Ký 6:29-30 (VIE1934)
29 Hễ người nam trong vòng những thầy tế-lễ sẽ ăn thịt đó: ấy là một vật chí-thánh.
30 Nhưng chẳng nên ăn thịt con sinh tế chuộc tội có huyết nó đem vào hội-mạc đặng làm lễ chuộc tội nơi đền thánh: hãy đốt nó đi.

Các thầy tế lễ nam được phép ăn thịt của-lễ chuộc tội theo những luật lệ Đức Chúa Trời đã ban. Tuy nhiên, nếu huyết của con sinh được đem vào hội-mạc để làm lễ chuộc tội nơi đền thánh, thì của lễ ấy không được ăn mà phải hoàn toàn bị thiêu. Sự phân biệt này bảo đảm rằng những của lễ đặc biệt, nhất là những của lễ có liên quan trực tiếp đến việc chuộc tội nơi đền thánh, được hoàn toàn biệt riêng cho Đức Chúa Trời. Điều đó biểu thị tính thánh khiết đặc biệt của một số của lễ, nhất là những của lễ có liên quan đến huyết, vốn được xem là phương tiện mạnh mẽ của sự thanh tẩy.

bottom of page