
Lê-vi Ký 7
Lê-vi Ký 7 đưa ra những chỉ dẫn chi tiết về các luật lệ liên quan đến nhiều loại của-lễ khác nhau, tập trung đặc biệt vào của-lễ chuộc sự mắc lỗi, của-lễ thù-ân và cách xử lý thịt của các của-lễ bởi các thầy tế lễ. Chương này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự thánh khiết trong mọi khía cạnh của sự thờ phượng và dâng tế lễ. Chương tiếp tục cho thấy tính nghiêm trọng của tội lỗi và những bước cần thiết để được chuộc tội và có mối thông công với Đức Chúa Trời.
Lê-vi Ký 7:1-2 (VIE1934)
1 Đây là luật-lệ về của-lễ chuộc sự mắc lỗi, ấy là một vật chí-thánh:
2 Trong nơi người ta giết con sinh dùng làm của-lễ thiêu, thì hãy giết con sinh tế chuộc sự mắc lỗi, rồi rưới huyết ở chung-quanh trên bàn-thờ.
Của-lễ chuộc sự mắc lỗi, cũng được gọi là của-lễ chuộc sự phạm lỗi, được xem là “một vật chí-thánh.” Điều này cho thấy nó được biệt riêng cách đặc biệt cho Đức Chúa Trời và phải được xử lý với lòng kính sợ lớn lao. Của-lễ được giết tại cùng một nơi với của-lễ thiêu, cho thấy mối liên hệ của nó với sự chuộc tội và hòa giải. Huyết được rưới chung quanh bàn-thờ tượng trưng cho tác dụng thanh tẩy của của-lễ, phục hồi mối quan hệ giữa người phạm lỗi với Đức Chúa Trời sau khi đã phạm tội.
Lê-vi Ký 7:3-5 (VIE1934)
3 Đoạn dâng hết thảy mỡ, đuôi và mỡ chài,
4 hai trái cật và mỡ hai trái cật nơi cạnh hông và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai trái cật.
5 Thầy tế-lễ sẽ xông hết trên bàn-thờ làm của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va: ấy là một của-lễ chuộc sự mắc lỗi.
Những phần mỡ của con sinh, được xem là những phần tốt nhất, phải được thiêu trên bàn-thờ như một dấu hiệu dâng phần tốt nhất cho Đức Chúa Trời. Việc mô tả chi tiết mỡ, hai trái cật và gan được dâng lên nhấn mạnh tính đầy đủ của của-lễ. Khi thiêu những phần này, thầy tế lễ hoàn thành vai trò trung gian giữa người phạm tội và Đức Chúa Trời, dâng của-lễ như một biểu tượng của sự chuộc tội và bồi hoàn cho sự phạm lỗi.
Lê-vi Ký 7:6-7 (VIE1934)
6 Mọi người nam trong vòng những thầy tế-lễ sẽ ăn thịt đó tại trong một nơi thánh; ấy là một vật chí-thánh.
7 Của-lễ chuộc sự mắc lỗi cũng như của-lễ chuộc tội, đồng một luật-lệ nhau; con sinh sẽ thuộc về thầy tế-lễ nào đã dùng nó làm lễ chuộc tội.
Các thầy tế lễ, là những người đã được biệt riêng ra thánh, được phép ăn một phần của của-lễ chuộc sự mắc lỗi tại một nơi thánh, nhấn mạnh tính thánh khiết của của-lễ. Điều này bảo đảm rằng của-lễ vẫn thuộc về chức vụ thánh của các thầy tế lễ trong việc duy trì sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Sự tương đồng giữa của-lễ chuộc tội và của-lễ chuộc sự mắc lỗi cũng được nhấn mạnh, vì cả hai đều nhằm chuộc những tội cụ thể. Thầy tế lễ thực hiện nghi thức được nhận phần thịt đó, tượng trưng cho sự tham dự của người trong tiến trình chuộc tội.
Lê-vi Ký 7:8 (VIE1934)
8 Còn thầy tế-lễ dâng của-lễ thiêu cho ai, sẽ được miếng da của con sinh dùng làm của-lễ thiêu đó.
Da của con sinh dùng làm của-lễ thiêu được ban cho thầy tế lễ thực hiện sự dâng tế lễ. Đây là một sự chu cấp cho các thầy tế lễ, những người sống nhờ sự dâng hiến của dân sự, đồng thời thừa nhận vai trò của họ trong chức vụ chuộc tội. Điều này cũng bảo đảm rằng không có phần nào của của-lễ bị lãng phí, vì ngay cả da của con vật cũng được sử dụng.
Lê-vi Ký 7:9-10 (VIE1934)
9 Phàm của-lễ chay nào, hoặc nấu trong lò, hoặc chiên trên chảo hay là nướng trên vĩ, thì thuộc về thầy tế-lễ đã đứng dâng.
10 Phàm của-lễ chay, hoặc chế dầu, hoặc khô, phải cứ một mực phân cho các con trai A-rôn.
Việc phân chia các của-lễ chay cho thấy các thầy tế lễ được hưởng một phần từ những của-lễ mà họ phục vụ. Những của-lễ chay được chuẩn bị theo những cách khác nhau, như nấu trong lò, chiên trên chảo hoặc nướng trên vĩ, thuộc về thầy tế lễ đứng dâng. Những loại của-lễ chay khác được chia cho tất cả các con trai A-rôn. Hệ thống này bảo đảm sự công bằng và chu cấp cho tất cả các thầy tế lễ, phản ánh trách nhiệm chung trong chức vụ tế lễ.
Lê-vi Ký 7:11-15 (VIE1934)
11 Đây là luật-lệ về của-lễ thù-ân mà người ta phải dâng cho Đức Giê-hô-va.
12 Nếu ai dâng của-lễ đó đặng cảm-tạ, thì phải dâng chung với của-lễ thù-ân những bánh nhỏ không pha men, chế dầu, bánh tráng không pha men thoa dầu, bột lọc trộn làm bánh nhỏ chế dầu;
13 lại phải thêm bánh có pha men mà dâng với của-lễ thù-ân cảm-tạ.
14 Họ sẽ lấy một phần trong mỗi lễ-vật làm của-lễ chay giơ lên dâng cho Đức Giê-hô-va; của-lễ đó sẽ thuộc về thầy tế-lễ đã rưới huyết của con sinh tế thù-ân.
15 Thịt của con sinh tế cảm-tạ thù-ân thì phải ăn hết nội ngày đã dâng lên, không nên để sót chi lại đến sáng mai.
Của-lễ thù-ân, có thể được dâng để cảm tạ, bao gồm nhiều loại bánh khác nhau bên cạnh con sinh tế. Những bánh không men tượng trưng cho sự tinh sạch, trong khi bánh có men phản ánh lương thực thông thường trong đời sống của dân sự. Của-lễ này là một hành động biết ơn Đức Giê-hô-va, bày tỏ lòng cảm tạ về sự chu cấp và bình an Ngài ban.
Một phần bánh trong mỗi lễ vật được biệt riêng làm của-lễ chay giơ lên và thuộc về thầy tế lễ đã rưới huyết của con sinh. Thịt của của-lễ thù-ân cảm tạ phải được ăn hết trong cùng ngày. Điều này tượng trưng cho việc tiếp nhận cách trọn vẹn sự chu cấp và bình an của Đức Chúa Trời, đồng thời nhấn mạnh sự thánh khiết của của-lễ và nhu cầu phải đối xử với nó đúng theo điều Đức Chúa Trời đã truyền dạy.
Lê-vi Ký 7:16-21 (VIE1934)
16 Nếu của-lễ dâng về việc thường-nguyện hay là lạc-ý, thì phải ăn con sinh đó nội trong ngày đã dâng lên; còn dư lại thì ăn ngày mai.
17 Nhưng phần còn dư lại đến ngày thứ ba thì phải thiêu đi.
18 Nếu ai ăn thịt của-lễ thù-ân trong ngày thứ ba, thì người nào dâng của-lễ đó sẽ chẳng được nhậm và chẳng kể chi của-lễ đó cho người nữa; ấy là một đều gớm-ghê, ai ăn thịt đó sẽ mang lấy tội mình.
19 Cũng chẳng nên ăn thịt đã đụng đến vật chi ô-uế; phải thiêu đi. Còn thịt nào ăn được, ai tinh-sạch mới nên ăn.
20 Ai đã bị ô-uế, lại ăn thịt của-lễ thù-ân vẫn thuộc về Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị truất khỏi dân-sự mình.
21 Nếu ai đụng đến sự ô-uế, hoặc của loài người, hoặc của loài vật hay là đều gì ghê-gớm, mà lại ăn thịt của-lễ thù-ân vẫn thuộc về Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị truất khỏi dân-sự mình.
Đối với của-lễ dâng về việc thường-nguyện hoặc lạc-ý, người dâng được phép ăn trong ngày dâng và ngày kế tiếp, nhưng phần còn lại đến ngày thứ ba phải bị thiêu đi. Nếu thịt được ăn vào ngày thứ ba, của-lễ không được chấp nhận và người ăn sẽ mang lấy tội mình. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng thời hạn mà Đức Chúa Trời đã quy định và duy trì sự tinh sạch của của-lễ.
Yêu cầu về sự tinh sạch nghi lễ cũng được nhấn mạnh. Bất cứ thịt nào chạm đến vật ô-uế đều phải bị thiêu. Chỉ những người tinh sạch mới được ăn của-lễ thù-ân. Ăn của-lễ khi đang ở trong tình trạng ô-uế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng—bị truất khỏi dân sự—cho thấy sự tách khỏi cộng đồng giao ước. Điều này bảo đảm sự thánh khiết của của-lễ được duy trì và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tinh sạch trong sự thờ phượng.
Lê-vi Ký 7:22-27 (VIE1934)
22 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
23 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Chẳng nên ăn một thứ mỡ nào của bò, chiên hay là dê.
24 Mỡ của con thú nào chết hay là bị xé sẽ được dùng về mọi việc, nhưng các ngươi không nên ăn;
25 vì ai ăn mỡ của những thú người ta dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, sẽ bị truất khỏi dân-sự mình.
26 Trong nơi nào các ngươi ở chẳng nên ăn huyết, hoặc của loài chim hay là của loài súc-vật.
27 Phàm ai ăn một thứ huyết nào sẽ bị truất khỏi dân-sự mình.
Đức Chúa Trời ban những chỉ dẫn rõ ràng về việc ăn mỡ của súc vật. Mỡ của những con vật chết tự nhiên hoặc bị thú dữ xé có thể được sử dụng vào những mục đích khác, nhưng không được ăn. Mỡ của những con vật dùng làm của-lễ dâng bằng lửa thuộc về Đức Chúa Trời và phải được thiêu trên bàn-thờ. Ăn phần mỡ này là trực tiếp vi phạm mạng lệnh của Ngài và dẫn đến việc bị truất khỏi dân sự, nhấn mạnh sự thánh khiết của tiến trình dâng tế lễ và sự vâng lời mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi dân Ngài.
Việc cấm ăn huyết cũng là một phần quan trọng trong các luật lệ về thức ăn. Huyết tượng trưng cho sự sống, và sự sống được xem là thánh và thuộc về Đức Chúa Trời. Ăn huyết bị nghiêm cấm, với hình phạt là bị truất khỏi dân sự. Mạng lệnh này nhấn mạnh sự tôn trọng đối với sự sống và tính thánh khiết của huyết, điều sau này có ý nghĩa đặc biệt trong hệ thống tế lễ và sự ứng nghiệm của nó nơi sự chuộc tội của Đấng Christ.
Lê-vi Ký 7:28-31 (VIE1934)
28 Đức Giê-hô-va còn phán cùng Môi-se rằng:
29 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Người nào dâng của-lễ thù-ân cho Đức Giê-hô-va, phải đem đến cho Ngài lễ-vật do trong của-lễ thù-ân mình.
30 Chánh tay người sẽ đem phần phải dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; tức là mỡ và cái o, cái o để đặng dùng làm của-lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va;
31 rồi thầy tế-lễ sẽ xông mỡ trên bàn-thờ, còn cái o thì thuộc về phần A-rôn và các con trai người.
Của-lễ thù-ân đòi hỏi người dâng phải trực tiếp tham gia, được biểu thị qua việc chính tay người đem lễ vật đến trước mặt Đức Giê-hô-va. Mỡ và cái o được dùng theo những mục đích khác nhau: mỡ được thiêu trên bàn-thờ làm của-lễ dâng cho Đức Chúa Trời, còn cái o thuộc về A-rôn và các con trai người. Nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Chúa Trời biểu thị sự công nhận rằng Ngài là Đấng ban mọi sự chu cấp và phước lành. Sự phân chia các phần của của-lễ nhấn mạnh mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời, các thầy tế lễ và dân sự, củng cố sự hiệp thông cộng đồng qua sự thờ phượng.
Lê-vi Ký 7:32-34 (VIE1934)
32 Các ngươi cũng sẽ cho thầy tế-lễ cái giò hữu về của-lễ thù-ân đặng làm của-lễ giơ lên.
33 Còn ai trong vòng các con trai A-rôn dâng huyết và mỡ của con sinh tế thù-ân, thì sẽ được phần cái giò hữu.
34 Vì trong những của-lễ thù-ân của dân Y-sơ-ra-ên ta lấy cái o mà họ đưa qua đưa lại trước mặt ta, và cái giò mà họ dâng giơ lên, đặng ban cho thầy tế-lễ A-rôn và các con trai người, chiếu theo luật-lệ đời đời mà dân Y-sơ-ra-ên phải giữ theo.
Cùng với cái o, cái giò hữu cũng được biệt riêng cho các thầy tế lễ. Của-lễ giơ lên, tương tự như của-lễ đưa qua đưa lại, là sự thừa nhận quyền tể trị và sự chu cấp của Đức Chúa Trời. Các thầy tế lễ, những người phục vụ như trung gian giữa Đức Chúa Trời và dân sự, nhận những phần này làm sự chu cấp cho chức vụ của mình. Quy định này được thiết lập làm luật đời đời, bảo đảm các thầy tế lễ được duy trì nhờ những của-lễ dâng cho Đức Giê-hô-va và luôn nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên về vai trò quan trọng của chức vụ tế lễ trong mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài.
Lê-vi Ký 7:35-36 (VIE1934)
35 Ấy là phần trong những của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va mà phép xức dầu sẽ truyền cho A-rôn và các con trai người trong ngày nào lập họ làm chức tế-lễ trước mặt Đức Giê-hô-va;
36 ấy là đều Đức Giê-hô-va đã phán dặn dân Y-sơ-ra-ên phải ban cho họ từ ngày họ chịu phép xức dầu. Ấy là một luật-lệ đời đời trải qua các thế-đại.
Các câu này nhắc lại rằng những phần của các của-lễ được dành cho A-rôn và các con trai ông là một phần trong sự biệt riêng họ để phục vụ với tư cách thầy tế lễ. Đức Chúa Trời truyền cho dân sự phải cung cấp phần này cho họ cách liên tục, gắn sự chu cấp cho chức tế lễ với sự trung tín của dân sự trong việc dâng của-lễ. Điều này bảo đảm chức tế lễ được duy trì và nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên qua mọi thế hệ về tầm quan trọng lâu dài của chức vụ mà Đức Chúa Trời đã thiết lập.
Lê-vi Ký 7:37-38 (VIE1934)
37 Đó là luật về của-lễ thiêu, về của-lễ chay, về của-lễ chuộc tội, về của-lễ chuộc sự mắc lỗi, về của-lễ phong chức và về của-lễ thù-ân,
38 mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se tại trên núi Si-na-i khi Ngài dặn-biểu dân Y-sơ-ra-ên dâng của-lễ mình cho Đức Giê-hô-va trong đồng vắng Si-na-i.
Hai câu cuối cùng tóm lược các luật lệ liên quan đến những loại của-lễ khác nhau được trình bày trong chương này và các chương trước: của-lễ thiêu, của-lễ chay, của-lễ chuộc tội, của-lễ chuộc sự mắc lỗi, của-lễ phong chức và của-lễ thù-ân. Những điều này được chính Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se trên núi Si-na-i để dân Y-sơ-ra-ên thực hiện trong đồng vắng Si-na-i và về sau. Điều này một lần nữa khẳng định nguồn gốc thiêng liêng của những mạng lệnh và ý nghĩa của chúng trong sự thờ phượng cũng như trong mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài. Chương kết thúc bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của sự vâng lời các luật lệ mà Đức Chúa Trời đã ban để dân sự được nên thánh và duy trì sự thông công với Ngài.

