
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14 tập trung vào lời kêu gọi Y-sơ-ra-ên phải là một dân thánh. Chương này đề cập đến các tập tục tang chế, luật về những loài vật được phép ăn, và luật về phần mười. Những luật lệ này phân biệt Y-sơ-ra-ên với các dân tộc xung quanh, bày tỏ sự quan tâm của Đức Chúa Trời đến đời sống thuộc linh và thể chất của dân Ngài, đồng thời giúp họ sống theo các điều răn của Ngài trong một đời sống biệt riêng và thánh khiết.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:1-3 (VIE1934)
1 Các ngươi là con cái của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình; chớ cắt mình, chớ cạo đầu vì kẻ chết.
2 Vì ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; Giê-hô-va đã chọn ngươi trong muôn dân trên mặt đất đặng làm một dân thuộc riêng về Ngài.
3 Chớ ăn một vật gì gớm ghiếc.
Những câu này nhấn mạnh rằng dân Y-sơ-ra-ên là dân được Đức Chúa Trời chọn và biệt riêng cho một mục đích thánh. Vì vậy, họ không được thực hành những tập tục tang chế ngoại giáo như tự cắt mình hoặc cạo đầu vì người chết. Cách sống của họ phải phản ánh mối quan hệ đặc biệt với Đức Chúa Trời, khiến họ khác biệt với các dân tộc xung quanh. Câu 3 chuyển sang các luật về ăn uống, nhấn mạnh rằng sự biệt riêng cũng được thể hiện ngay trong những gì họ ăn, tránh xa những điều ô uế và gớm ghiếc.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:4-8 (VIE1934)
4 Nầy là các loài thú các ngươi được ăn: bò, chiên, dê,
5 nai đực, hoàng dương, hươu sao, dê rừng, dê núi, bò rừng, và sơn dương.
6 Trong các loài vật, hễ con nào có móng rẽ hai và nhai lại, thì các ngươi được ăn.
7 Nhưng trong những loài nhai lại hoặc có móng rẽ hai, thì các ngươi chớ ăn những con nầy: lạc đà, thỏ rừng, và con chồn núi, vì chúng nhai lại nhưng không có móng rẽ hai; các ngươi phải kể chúng là loài ô uế.
8 Con heo cũng vậy, vì nó có móng rẽ hai, nhưng không nhai lại; các ngươi phải kể nó là loài ô uế. Các ngươi chớ ăn thịt nó, cũng chớ đụng đến thây nó.
Những câu này liệt kê các loài thú sạch mà dân Y-sơ-ra-ên được phép ăn và những loài phải tránh. Đối với thú vật trên đất, hai đặc điểm quan trọng được nêu ra là có móng rẽ hai và nhai lại. Những con không có đủ cả hai đặc điểm, chẳng hạn như lạc đà và heo, được kể là ô uế. Những quy định về ăn uống này khiến thói quen ăn uống của Y-sơ-ra-ên khác biệt với các dân tộc xung quanh, đồng thời nhắc họ về thân phận của một dân thánh phải vâng theo những chỉ dẫn cụ thể của Đức Chúa Trời về sự thanh sạch.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:9-10 (VIE1934)
9 Trong các loài ở dưới nước, các ngươi được ăn mọi loài có vây và có vảy.
10 Nhưng hễ loài nào không có vây và không có vảy thì các ngươi chớ ăn; đó là loài ô uế cho các ngươi.
Những câu này đưa ra quy định về các sinh vật dưới nước. Chỉ những loài có cả vây và vảy mới được kể là sạch và được phép ăn. Những loài không có vây và vảy, chẳng hạn như một số loài sinh vật dưới nước và các loài cá nhất định, được kể là ô uế và không được ăn. Những quy định này tiếp tục phân biệt dân Y-sơ-ra-ên với các dân tộc khác và hướng dẫn họ tránh những thực phẩm mà Đức Chúa Trời không cho phép sử dụng.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:11-18 (VIE1934)
11 Các ngươi được ăn mọi loài chim sạch.
12 Nhưng những loài nầy các ngươi chớ ăn: chim ưng, chim kên kên, diều hâu,
13 chim ó, các loài diều hâu,
14 các loài quạ,
15 đà điểu, chim cú, chim mòng biển, các loài chim ưng,
16 chim cú nhỏ, chim cú, chim cú trắng,
17 chim bồ nông, chim ó biển, chim cốc,
18 cò, các loài diệc, chim đầu rìu, và dơi.
Trong những câu này, Đức Chúa Trời chỉ rõ những loài chim nào được kể là sạch và có thể ăn, cũng như những loài bị cấm. Phần lớn các loài chim bị cấm được mô tả là những loài ăn xác chết hoặc săn mồi. Bằng cách tuân theo những quy định về ăn uống này, dân Y-sơ-ra-ên được giữ khỏi những điều ô uế và tiếp tục sống biệt riêng, vâng phục những mạng lệnh mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:19-20 (VIE1934)
19 Phàm loài côn trùng có cánh đều là loài ô uế cho các ngươi; các ngươi chớ ăn.
20 Các ngươi được ăn mọi loài chim sạch.
Những câu này nhắc lại rằng các loài côn trùng có cánh, thuộc những loài bò hoặc bầy nhầy, được kể là ô uế và không được ăn, trong khi các loài chim sạch thì được phép ăn. Sự phân biệt giữa sạch và ô uế giúp dân Y-sơ-ra-ên duy trì sự biệt riêng và vâng phục những chỉ dẫn chi tiết mà Đức Chúa Trời đã ban.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:21 (VIE1934)
21 Các ngươi chớ ăn một con thú chết tự nhiên; các ngươi có thể cho khách ngoại bang ở trong các thành mình ăn, hoặc bán cho người ngoại quốc; vì ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. Chớ nấu thịt dê con trong sữa của mẹ nó.
Câu này cấm dân Y-sơ-ra-ên ăn những con vật chết tự nhiên, vì chúng được xem là không thích hợp để ăn theo các quy định về sự thanh sạch. Tuy nhiên, người ngoại bang sống giữa họ hoặc người ngoại quốc có thể nhận hoặc mua những con vật đó. Điều này cho thấy quy định này được áp dụng đặc biệt cho dân Y-sơ-ra-ên với tư cách là một dân thánh thuộc về Đức Chúa Trời. Mệnh lệnh cuối cùng, không được nấu dê con trong sữa của mẹ nó, cũng nhấn mạnh sự biệt riêng khỏi những tập tục ngoại giáo có thể liên quan đến các nghi lễ sinh sản và thờ hình tượng.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:22-23 (VIE1934)
22 Hằng năm, ngươi phải lấy một phần mười của các hoa lợi, tức là tất cả thổ sản của hột giống ngươi mà đồng ruộng sanh sản.
23 Ngươi sẽ ăn trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại nơi Ngài sẽ chọn để đặt danh Ngài, phần mười về ngũ cốc, rượu mới, dầu, cùng các con đầu lòng của bầy bò và bầy chiên, hầu cho ngươi tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi luôn luôn.
Những câu này giới thiệu việc dâng phần mười. Dân Y-sơ-ra-ên được truyền phải biệt riêng một phần trong sản vật của đồng ruộng và gia súc của mình cho Đức Chúa Trời. Phần mười này được dùng tại nơi Đức Chúa Trời chọn để danh Ngài ngự, trong bối cảnh thờ phượng và vui mừng trước mặt Ngài. Điều này nhắc dân sự rằng mọi sự cung cấp của họ đều đến từ Đức Chúa Trời, giúp họ học biết kính sợ Ngài và bày tỏ lòng biết ơn về những gì Ngài ban cho, đồng thời chăm lo cho sinh hoạt thờ phượng và chức vụ của người Lê-vi.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:24-27 (VIE1934)
24 Nếu đường đi quá dài đối với ngươi, đến nỗi ngươi không thể đem phần mười đến, vì nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi chọn đặng đặt danh Ngài ở quá xa ngươi, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho ngươi,
25 thì ngươi phải đổi phần mười ấy ra tiền, cầm tiền trong tay, và đi đến nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn.
26 Tại đó, ngươi sẽ dùng tiền mua bất cứ vật gì lòng ngươi muốn, hoặc bò, hoặc chiên, hoặc rượu, hoặc rượu mạnh, hay bất cứ vật gì lòng ngươi muốn; rồi ngươi sẽ ăn tại đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và ngươi cùng nhà mình sẽ vui mừng.
27 Chớ quên người Lê-vi ở trong các thành ngươi, vì người không có phần hoặc sản nghiệp với ngươi.
Những câu này đưa ra những hướng dẫn thực tế cho những người sống cách xa nơi thờ phượng được chỉ định. Thay vì phải mang theo ngũ cốc, rượu, dầu hoặc gia súc trên một quãng đường dài, họ có thể đổi phần mười thành tiền, đem tiền đến nơi Đức Chúa Trời chọn và dùng tiền để mua những gì cần thiết cho bữa tiệc trước mặt Ngài. Điều này giúp dân sự có thể tham dự vào sự thờ phượng và vui mừng dù họ sống xa nơi thánh. Đồng thời, họ được nhắc nhở không được quên người Lê-vi, vì người Lê-vi không có phần đất hay sản nghiệp riêng như các chi phái khác.
Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:28-29 (VIE1934)
28 Cuối mỗi năm thứ ba, ngươi phải đem hết phần mười hoa lợi năm đó mà chứa trong các thành mình.
29 Bấy giờ người Lê-vi, vì không có phần hoặc sản nghiệp với ngươi, người khách ngoại bang, kẻ mồ côi, và người góa bụa ở trong các thành ngươi sẽ đến ăn và được no nê; hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi trong mọi công việc tay ngươi làm.
Những câu cuối cùng nói đến một phần mười đặc biệt được thu vào mỗi năm thứ ba và lưu trữ tại các thành địa phương. Phần này được dùng để cung cấp cho người Lê-vi, khách ngoại bang, trẻ mồ côi và người góa bụa—những người dễ bị tổn thương trong cộng đồng. Như vậy, Đức Chúa Trời không chỉ quan tâm đến sự thờ phượng của dân Ngài mà còn đến những người không có nguồn đất đai hoặc sự bảo đảm kinh tế như những gia đình khác. Bằng cách vâng theo mạng lệnh này, dân Y-sơ-ra-ên vừa thực hiện luật pháp của Đức Chúa Trời vừa thể hiện sự quan tâm đến những người cần được giúp đỡ, và Đức Chúa Trời hứa ban phước cho công việc của tay họ.

