
Ru-tơ 2
Trong chương này, chúng ta thấy lòng trung thành và sự tận tụy của Ru-tơ khi nàng đi mót lúa ngoài đồng để cung cấp cho mình và Na-ô-mi. Theo sự quan phòng của Đức Chúa Trời, nàng gặp Bô-ô, một người giàu có và có thế lực, là người đối đãi tử tế với nàng. Cuộc gặp gỡ này đặt nền tảng cho mối quan hệ giữa họ, và sự rộng rãi của Bô-ô phản chiếu lòng nhân từ theo giao ước của Đức Chúa Trời. Chương này cũng nhấn mạnh sự chu cấp của Đức Chúa Trời, cùng với lòng khiêm nhường và sự siêng năng của Ru-tơ.
Ru-tơ 2:1 (VIE1934)
1 Na-ô-mi có một người bà con bên chồng, là một người giàu có, thuộc về họ của Ê-li-mê-léc; tên người là Bô-ô.
Chương này mở đầu bằng việc giới thiệu Bô-ô, một người bà con giàu có của Ê-li-mê-léc, chồng quá cố của Na-ô-mi. Sự giàu có và mối liên hệ gia đình của ông cho thấy ngay rằng ông có thể đóng một vai trò quan trọng trong tương lai của Ru-tơ và Na-ô-mi. Trong bối cảnh văn hóa thời đó, một người bà con gần có thể đóng vai trò là “người chuộc lại,” tức là người có thể chuộc lại những gì gia đình đã mất. Việc giới thiệu Bô-ô chuẩn bị cho người đọc thấy kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho Ru-tơ và Na-ô-mi sẽ dần được bày tỏ.
Ru-tơ 2:2 (VIE1934)
2 Ru-tơ, người Mô-áp, nói cùng Na-ô-mi rằng: Xin mẹ cho phép tôi đi ra ngoài đồng, đặng mót lúa theo sau người nào mà tôi được ơn trước mặt họ. Na-ô-mi đáp rằng: Ừ, con ơi, hãy đi.
Ru-tơ chủ động tìm cách cung cấp cho mình và Na-ô-mi bằng cách đi mót lúa ngoài đồng, một tập tục theo đó người nghèo được phép nhặt những bông lúa còn sót lại sau những người gặt. Ru-tơ khiêm nhường hy vọng tìm được ơn trước mặt một người nào đó để cho phép nàng mót lúa. Sự sẵn lòng làm việc và việc xin phép Na-ô-mi cho thấy lòng trung thành cũng như quyết tâm chăm sóc mẹ chồng của nàng.
Ru-tơ 2:3 (VIE1934)
3 Vậy, nàng đi, đến mót lúa trong đồng, theo sau những kẻ gặt. Xảy nàng đến nhằm phần ruộng của Bô-ô, là người thuộc về họ của Ê-li-mê-léc.
Điều dường như là một sự tình cờ đã khiến Ru-tơ đến mót lúa trong chính ruộng của Bô-ô, người bà con của Ê-li-mê-léc. Tuy nhiên, “sự tình cờ” này là một dấu hiệu kín đáo về sự quan phòng của Đức Chúa Trời đang hành động. Đức Chúa Trời đang dẫn dắt từng bước chân của Ru-tơ đến đúng nơi nàng sẽ gặp Bô-ô, chuẩn bị cho kế hoạch của Ngài được bày tỏ trong đời sống của họ.
Ru-tơ 2:4-5 (VIE1934)
4 Nầy, Bô-ô từ Bết-lê-hem đến, nói cùng những kẻ gặt rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi! Chúng đáp rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ông!
5 Bô-ô hỏi người đầy tớ coi sóc những kẻ gặt rằng: Người gái trẻ nầy là con của ai?
Lời chào của Bô-ô đối với những người làm công cho thấy tính cách kính sợ Đức Chúa Trời của ông. Sự chào hỏi lẫn nhau cho thấy đức tin hiện diện ngay trong đời sống hằng ngày của ông. Khi nhìn thấy Ru-tơ, Bô-ô lập tức chú ý đến nàng và hỏi nàng là ai. Sự quan tâm này mở đầu cho cuộc trò chuyện giữa ông và Ru-tơ, đồng thời cho thấy ông bắt đầu quan tâm đến hoàn cảnh của nàng.
Ru-tơ 2:6-7 (VIE1934)
6 Người đầy tớ coi sóc những kẻ gặt đáp rằng: Ấy là người gái Mô-áp, đã từ xứ Mô-áp trở về cùng Na-ô-mi.
7 Nàng có nói rằng: Xin cho tôi mót và lượm lúa giữa những bó lúa theo sau những kẻ gặt. Nàng đã đến đây từ sáng sớm và cứ ở luôn cho đến bây giờ, chỉ nghỉ trong nhà một chút.
Người đầy tớ giải thích cho Bô-ô biết rằng Ru-tơ là người phụ nữ Mô-áp đã trở về cùng Na-ô-mi. Ông cũng cho biết Ru-tơ đã lễ phép xin phép được mót lúa và rất siêng năng làm việc, từ sáng cho đến lúc ấy chỉ nghỉ một chút. Sự cần cù và khiêm nhường của Ru-tơ được nhấn mạnh ở đây, khiến nàng được Bô-ô chú ý và có cảm tình.
Ru-tơ 2:8-9 (VIE1934)
8 Bô-ô nói cùng Ru-tơ rằng: Hỡi con gái ta, hãy nghe ta; đừng đi mót trong ruộng khác, cũng đừng lìa khỏi đây; hãy ở gần các tớ gái ta.
9 Hãy để mắt đến ruộng mà họ gặt, và đi theo họ. Ta đã truyền cho các trai trẻ chớ đụng đến nàng; khi khát, hãy đến nơi có bình mà uống nước những trai trẻ đã múc.
Bô-ô nói với Ru-tơ cách tử tế, ban cho nàng sự bảo vệ và chu cấp. Ông bảo nàng cứ ở lại trong ruộng của ông và đi theo những người nữ làm công, để nàng được an toàn và được chăm sóc. Bô-ô còn truyền cho những người nam làm công không được quấy rối nàng. Sự tử tế này vượt xa một nghĩa vụ thông thường, cho thấy lòng rộng rãi và thương xót của ông.
Ru-tơ 2:10 (VIE1934)
10 Nàng bèn sấp mình xuống đất, và nói rằng: Vì cớ sao tôi được ơn trước mặt ông, đến nỗi ông đoái đến tôi, dầu tôi là người khách?
Ru-tơ vô cùng cảm động trước lòng nhân từ của Bô-ô và khiêm nhường hỏi tại sao nàng, một người ngoại quốc, lại được ơn trước mặt ông. Việc nàng sấp mình xuống đất thể hiện lòng biết ơn và sự khiêm nhường sâu sắc. Việc Ru-tơ ý thức mình là một người ở ngoài dân Y-sơ-ra-ên càng làm nổi bật sự ngạc nhiên của nàng trước lòng rộng rãi của Bô-ô, đồng thời báo trước vai trò của ông như một người chuộc lại.
Ru-tơ 2:11-12 (VIE1934)
11 Bô-ô đáp rằng: Người ta đã thuật hết cho ta mọi điều con đã làm cho mẹ chồng con, từ khi chồng con qua đời; thể nào con đã lìa cha mẹ, quê hương mình, mà đi đến cùng một dân tộc mà trước kia con không biết.
12 Cầu xin Đức Giê-hô-va báo đáp công việc con, và nguyện phần thưởng của con được trọn vẹn từ nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, dưới cánh Ngài mà con đã đến nương náu.
Bô-ô giải thích rằng ông đã nghe biết về lòng trung thành và sự hy sinh của Ru-tơ dành cho Na-ô-mi, về việc nàng rời bỏ quê hương và gia đình để đến sống giữa một dân tộc xa lạ. Ông khen nàng vì đã tìm nơi nương náu dưới Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và cầu xin Đức Giê-hô-va ban thưởng cho những việc làm trung tín của nàng. Lời của Bô-ô cho thấy ông nhận biết phẩm hạnh và đức tin của Ru-tơ.
Ru-tơ 2:13 (VIE1934)
13 Nàng thưa rằng: Hỡi chúa, ước gì tôi được ơn trước mặt chúa! Vì chúa đã yên ủi tôi, và đã nói cách nhân từ cùng tôi, dầu tôi chẳng bằng một người tớ gái của chúa.
Ru-tơ tiếp tục bày tỏ lòng khiêm nhường và biết ơn, thừa nhận rằng lòng nhân từ của Bô-ô đã đem lại sự an ủi cho nàng. Nàng biết mình khác với những tớ gái của ông, nhưng ông vẫn đối xử với nàng cách rất tôn trọng. Lời đáp của Ru-tơ cho thấy nàng thật sự trân trọng lòng thương xót và sự tử tế mà Bô-ô đã dành cho mình.
Ru-tơ 2:14-16 (VIE1934)
14 Đến bữa, Bô-ô nói cùng nàng rằng: Hãy lại đây, ăn bánh và nhúng miếng bánh mình vào giấm. Nàng ngồi bên những kẻ gặt; người đem lúa rang cho nàng, nàng ăn no, và để dành phần còn lại.
15 Đoạn, nàng chỗi dậy mót lúa. Bô-ô truyền cho các đầy tớ mình rằng: Hãy để cho nàng mót cả giữa những bó lúa, đừng quở trách nàng.
16 Cũng hãy rút ra cho nàng một ít từ trong những bó lúa, để cho nàng mót, đừng quở trách nàng.
Bô-ô không những cho phép Ru-tơ mót lúa mà còn mời nàng cùng ăn với ông và những người làm công, tiếp tục bày tỏ lòng rộng rãi của mình. Sau đó, ông truyền cho những người làm công để nàng được mót ngay cả giữa những bó lúa, một vị trí đặc biệt thuận lợi, và cố ý để lại thêm lúa cho nàng nhặt. Hành động nhân từ này cung cấp cho Ru-tơ nhiều hơn mức cần thiết để đáp ứng nhu cầu của nàng và Na-ô-mi.
Ru-tơ 2:17 (VIE1934)
17 Vậy, nàng mót trong đồng cho đến tối; rồi đập lúa mình đã mót, được chừng một ê-pha lúa mạch.
Ru-tơ làm việc siêng năng suốt ngày, thu được khoảng một ê-pha lúa mạch, là một lượng đáng kể. Mùa gặt dồi dào này là kết quả trực tiếp từ lòng nhân từ của Bô-ô, nhưng đồng thời cũng phản ánh tinh thần cần cù và sự tận tụy của Ru-tơ trong việc cung cấp cho Na-ô-mi.
Ru-tơ 2:18-19 (VIE1934)
18 Nàng vác lên, đi vào trong thành; mẹ chồng nàng thấy nàng đã mót được bao nhiêu, và nàng lấy phần đồ ăn còn để dành sau khi đã ăn no, đem cho mẹ.
19 Mẹ chồng nàng hỏi rằng: Ngày nay con mót ở đâu? Con đã làm việc ở đâu? Đáng chúc phước thay người đã đoái đến con! Nàng thuật lại cho mẹ chồng mình biết người mà nàng đã làm việc cùng, và nói rằng: Người mà con làm việc cùng hôm nay tên là Bô-ô.
Khi Ru-tơ trở về nhà với một lượng lúa dồi dào, Na-ô-mi ngạc nhiên trước số lượng nàng mang về và hỏi nàng đã làm việc ở đâu. Ru-tơ cho biết mình đã mót lúa trong ruộng của Bô-ô, khiến Na-ô-mi chúc phước cho ông vì lòng nhân từ của ông. Đây là một bước ngoặt quan trọng, khi Na-ô-mi bắt đầu nhìn thấy hy vọng cho tương lai của họ qua sự quan phòng của Đức Chúa Trời và lòng rộng rãi của Bô-ô.
Ru-tơ 2:20 (VIE1934)
20 Na-ô-mi nói cùng con dâu mình rằng: Người ấy đáng được Đức Giê-hô-va ban phước, vì Ngài chẳng dứt sự nhơn từ của Ngài đối với kẻ sống và kẻ chết! Na-ô-mi lại nói rằng: Người ấy là bà con chúng ta, một trong những người có quyền chuộc lại.
Na-ô-mi nhận ra rằng Bô-ô là một người bà con gần của họ, một người có quyền chuộc lại, nghĩa là ông có khả năng khôi phục lại cơ nghiệp và tương lai của gia đình. Nàng ngợi khen Đức Giê-hô-va vì Ngài không từ bỏ sự nhân từ của Ngài đối với cả người sống và người chết: người sống là Na-ô-mi và Ru-tơ, còn người chết là Ê-li-mê-léc cùng các con trai ông. Sự nhận biết này đem lại cho Na-ô-mi một niềm hy vọng mới.
Ru-tơ 2:21-23 (VIE1934)
21 Ru-tơ, người Mô-áp, nói rằng: Người ấy cũng có nói với tôi rằng: Con cứ ở gần những đầy tớ ta cho đến khi họ gặt xong hết mùa gặt của ta.
22 Na-ô-mi nói cùng Ru-tơ, con dâu mình, rằng: Hỡi con gái ta, ở gần những tớ gái của người ấy là phải; kẻo người ta gặp con trong ruộng khác.
23 Vậy, nàng ở gần các tớ gái của Bô-ô, đặng mót cho đến khi mùa gặt lúa mạch và mùa gặt lúa mì đều xong. Nàng ở cùng mẹ chồng mình.
Ru-tơ thuật lại sự rộng rãi tiếp tục của Bô-ô, vì ông đã cho phép nàng ở lại trong ruộng của mình cho đến khi mùa gặt hoàn tất. Na-ô-mi tán thành kế hoạch ấy và khuyên Ru-tơ tiếp tục ở nơi nàng được an toàn và được chu cấp.
Ru-tơ trung thành ở lại bên những tớ gái của Bô-ô, mót lúa suốt cả mùa gặt lúa mạch và mùa gặt lúa mì. Qua sự siêng năng của nàng, Ru-tơ tiếp tục cung cấp thức ăn cho mình và Na-ô-mi, trong khi sự quan phòng của Đức Chúa Trời đang từng bước mở ra một tương lai mới cho cả hai.

