
Sáng Thế Ký 11
Sáng Thế Ký 11 đánh dấu sự tiếp nối của lịch sử ban đầu của nhân loại sau trận Lụt. Chương này chủ yếu thuật lại hai sự kiện quan trọng: việc xây dựng Tháp Ba-bên và sự phân chia ngôn ngữ. Đây là một bước ngoặt trong lịch sử nhân loại khi Đức Chúa Trời can thiệp để làm cho nhân loại bị phân tán, ngăn họ hiệp lại trong sự phản loạn đầy kiêu ngạo. Chương này kết thúc bằng một gia phả truy nguyên dòng dõi của Sem, dẫn đến Áp-ram (sau này được gọi là Áp-ra-ham), mở đường cho lịch sử giao ước của Y-sơ-ra-ên.
Sáng Thế Ký 11:1 (VIE1934)
1 Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng.
Sau trận Lụt, toàn thể nhân loại nói cùng một ngôn ngữ, tạo nên cảm giác hiệp nhất và có chung một mục đích. Sự hiệp nhất này khiến họ dễ dàng hợp tác và chia sẻ ý tưởng với nhau. Tuy nhiên, ngôn ngữ chung của họ chẳng bao lâu sẽ trở thành nền tảng cho sự phản loạn chống lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Thay vì phân tán khắp đất như Đức Chúa Trời đã truyền, họ bắt đầu sử dụng sự hiệp nhất của mình để chống lại kế hoạch của Ngài. Sự hiệp nhất này, dù tự nó có thể là điều tốt, chẳng bao lâu bị sử dụng sai để tôn cao chính con người.
Sáng Thế Ký 11:2-3 (VIE1934)
2 Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.
3 Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ.
Người ta đi từ phương Đông đến và định cư tại Si-nê-a, một vùng đồng bằng màu mỡ. Thay vì phân tán khắp đất như Đức Chúa Trời đã truyền, họ quyết định định cư tại một nơi. Việc họ sử dụng công nghệ tiên tiến vào thời đó — nung gạch và dùng chai thay cho hồ — cho thấy tham vọng và mong muốn xây dựng một công trình vĩ đại. Ý định xây dựng một nơi lâu dài cho thấy khát vọng chung của họ về sự ổn định, đồng thời thể hiện sự từ chối mệnh lệnh của Đức Chúa Trời là phải lan rộng và làm cho đất đầy dẫy.
Sáng Thế Ký 11:4 (VIE1934)
4 Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.
Mục tiêu của họ không chỉ là xây một thành phố mà còn là dựng một cái tháp có đỉnh cao đến tận trời. Đây không phải là một dự án thờ phượng khiêm nhường, mà là một lời tuyên bố về lòng kiêu ngạo và sự tự cậy của con người. Bằng việc “làm cho rạng danh”, họ tìm cách tạo dựng một di sản và căn tính độc lập với Đức Chúa Trời. Họ sợ bị phân tán, cho thấy ý định của họ là duy trì sự kiểm soát và hiệp nhất bằng sức mạnh của con người, trực tiếp chống lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời là làm cho đất đầy dẫy.
Sáng Thế Ký 11:5-6 (VIE1934)
5 Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên.
6 Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được.
Đức Chúa Trời quan sát thành và tháp mà con người đang xây dựng. Trong khi con người muốn vươn lên đến trời, việc Đức Chúa Trời “ngự xuống” tượng trưng cho khoảng cách lớn lao giữa những tham vọng của họ và Ngài, cho dù mục tiêu của họ có vẻ cao đến đâu. Lời Đức Chúa Trời về sự hiệp nhất của họ cho thấy mối nguy hiểm tiềm tàng của tham vọng con người không bị kiểm soát khi kết hợp với lòng kiêu ngạo và sự phản loạn. Nếu nỗ lực thống nhất nhằm tự tôn cao mình này không bị ngăn lại, nó có thể dẫn đến sự chống đối ý muốn của Đức Chúa Trời ngày càng lớn hơn.
Sáng Thế Ký 11:7-8 (VIE1934)
7 Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.
8 Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành.
Sự đáp lại của Đức Chúa Trời đối với sự phản loạn của họ là làm lộn xộn ngôn ngữ, khiến họ không còn hiểu tiếng nói của nhau. Sự can thiệp này trực tiếp phá vỡ dự án của họ, buộc họ phải ngừng xây thành và tháp. Kết quả là họ bị phân tán khắp đất, làm trọn mệnh lệnh ban đầu của Đức Chúa Trời. Sự lộn xộn ngôn ngữ vừa là sự phán xét đối với lòng kiêu ngạo của họ, vừa là một hành động thương xót nhằm ngăn chặn sự phản loạn thống nhất chống lại thẩm quyền của Đức Chúa Trời.
Cụm từ “chúng ta, hãy xuống” có thể được hiểu là chỉ về Đấng Christ trước khi nhập thể cùng các thiên sứ của Ngài. Đấng Christ, Đấng mang danh Đức Giê-hô-va (YHWH) trong Cựu Ước, thường dẫn đầu những sự can thiệp của Đức Chúa Trời. Vai trò của Ngài với tư cách YHWH là lý do câu này nói đến Đức Giê-hô-va giáng xuống. Cùng với các thiên sứ, Ngài làm lộn xộn ngôn ngữ tại Ba-bên, ngăn chặn sự phản loạn tiếp theo và phân tán con người khắp đất, làm trọn mệnh lệnh của Đức Chúa Trời là làm cho đất đầy dẫy (Sáng Thế Ký 9:1). Điều này phù hợp với những trường hợp khác trong đó Đấng Christ, với tư cách YHWH, hành động cùng các thiên sứ để thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời.
Sáng Thế Ký 11:9 (VIE1934)
9 Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.
Thành được gọi là Ba-bên, nghĩa là “sự lộn xộn”, vì tại đó Đức Chúa Trời đã làm lộn xộn ngôn ngữ của họ. Khoảnh khắc này đại diện cho một sự thay đổi sâu sắc trong lịch sử nhân loại, khi sự hiệp nhất của con người bị phá vỡ vì sự phản loạn đầy kiêu ngạo. Việc dân chúng bị phân tán khắp đất cũng giải thích nguồn gốc của sự đa dạng về ngôn ngữ và các dân tộc. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của sự phân chia giữa con người, nhưng đồng thời cũng là một biện pháp bảo vệ của Đức Chúa Trời nhằm hạn chế lòng kiêu ngạo và sự phản loạn của nhân loại.
Sáng Thế Ký 11:10-26 (VIE1934)
10 Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát.
11 Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.
12 A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.
13 Sau khi A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
14 Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.
15 Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
16 Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.
17 Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
18 Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu.
19 Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con gái.
20 Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.
21 Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con gái.
22 Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.
23 Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.
24 Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.
25 Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con gái.
26 Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.
Những câu này cung cấp gia phả của Sem, truy nguyên các thế hệ từ sau trận Lụt cho đến Áp-ram (sau này là Áp-ra-ham). Điều này nhấn mạnh sự bảo tồn của một dòng dõi mà qua đó những phước hạnh của giao ước Đức Chúa Trời sẽ được truyền xuống. Mỗi thế hệ được ghi lại cùng với các con trai và con gái của họ, cho thấy sự tiếp nối của sự sống và mục đích liên tục của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại bất chấp những gián đoạn do tội lỗi và sự phán xét gây ra. Bản gia phả đạt đến cao điểm với Áp-ram, báo hiệu sự khởi đầu của một chương mới trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Sáng Thế Ký 11:27-30 (VIE1934)
27 Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.
28 Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-ru, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống.
29 Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran.
30 Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không có con.
Những câu này cung cấp thêm chi tiết về gia đình của Tha-rê, đặc biệt tập trung vào Áp-ram và những người thân của ông. Cái chết sớm của Ha-ran khiến Lót, con trai ông, trở thành một đứa trẻ mồ côi, người sau này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Áp-ram. Áp-ram và Na-cô đều kết hôn, nhưng Sa-rai, vợ của Áp-ram, được nói là son sẻ, một chi tiết quan trọng mở đường cho những lời hứa sắp tới của Đức Chúa Trời liên quan đến dòng dõi của Áp-ram. Bất chấp sự son sẻ của Sa-rai, kế hoạch của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện.
Sáng Thế Ký 11:31-32 (VIE1934)
31 Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại đó.
32 Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.
Tha-rê, cha của Áp-ram, quyết định rời U-rơ và hướng về xứ Ca-na-an, đem theo Áp-ram, Lót và Sa-rai. Tuy nhiên, họ không hoàn thành hành trình mà dừng lại và định cư tại Cha-ran. Cái chết của Tha-rê đánh dấu sự kết thúc cuộc đời ông nhưng cũng là một điểm chuyển tiếp quan trọng trong câu chuyện, vì nó mở đường cho sự kêu gọi sau này của Đức Chúa Trời dành cho Áp-ram để tiếp tục hành trình đến Ca-na-an. Sự vâng phục của Áp-ram đối với lời kêu gọi này sẽ trở thành một chủ đề trung tâm trong câu chuyện tiếp theo về giao ước của Đức Chúa Trời với ông.

