top of page

Sáng Thế Ký 19

Sáng Thế Ký 19 mô tả sự hủy diệt của Sô-đôm và Gô-mô-rơ vì sự gian ác lớn lao của họ. Chương này tập trung vào vai trò của hai thiên sứ được sai đến để giải cứu Lót và gia đình ông, sự sa đọa của cư dân thành phố, và hậu quả của việc không vâng theo lời cảnh báo của Đức Chúa Trời. Chương này cũng làm nổi bật sự phán xét nghiêm khắc của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi và lòng thương xót được bày tỏ đối với gia đình Lót.

Sáng Thế Ký 19:1 (VIE1934)
1 Lối chiều, hai thiên-sứ đến Sô-đôm; lúc đó, Lót đương ngồi tại cửa thành. Khi Lót thấy hai thiên-sứ đến, đứng dậy mà đón-rước và sấp mình xuống đất.

Lót, người đã định cư tại Sô-đôm, đang ngồi tại cửa thành, là nơi diễn ra các hoạt động giao thương và xét xử. Hai thiên sứ đến vào buổi chiều, đại diện cho sứ mạng của Đức Chúa Trời là phán xét Sô-đôm và giải cứu Lót. Hành động của Lót cho thấy sự tôn trọng và lòng hiếu khách khi ông khiêm nhường chào đón họ. Việc ông ngồi tại cửa thành cho thấy ông có một vị trí đáng kể trong thành, dù ông là một người công bình đang sống giữa một nơi gian ác. Phản ứng ngay lập tức của Lót cho thấy ông nhận biết có điều gì đó đặc biệt nơi những vị khách này.

Sáng Thế Ký 19:2-3 (VIE1934)
2 Người thưa rằng: Nầy, lạy hai chúa, xin hãy đến ở nhà của kẻ tôi-tớ, và hãy nghỉ đêm tại đó. Hai chúa hãy rửa chân, rồi sáng mai thức dậy lên đường. Hai thiên-sứ phán rằng: Không, đêm nầy ta sẽ ở ngoài đường.
3 Nhưng Lót cố mời cho đến đỗi hai thiên-sứ phải đi lại vào nhà mình. Người dâng một bữa tiệc, làm bánh không men, và hai thiên-sứ bèn dùng tiệc.

Lót, nhận biết mối nguy hiểm trong thành, thúc giục các thiên sứ ở lại nhà mình, đề nghị sự hiếu khách và an toàn. Sự nài nỉ của ông phản ánh mối quan tâm đối với sự an toàn của họ, vì ông biết những điều gian ác thường xảy ra trên đường phố Sô-đôm vào ban đêm. Ban đầu các thiên sứ định ở ngoài đường, nhưng sự khẩn khoản của Lót khiến họ nhận lời và vào nhà ông. Lòng hiếu khách của Lót, thể hiện qua bữa ăn ông chuẩn bị, phản ánh phong tục bảo vệ và chăm sóc khách trong văn hóa thời đó. Sự khẩn trương của ông cho thấy ông nhận thức rõ sự băng hoại của thành.

Sáng Thế Ký 19:4-5 (VIE1934)
4 Hai thiên-sứ chưa đi nằm, mà các người nam ở Sô-đôm, từ trẻ đến già, tức cả dân, đều chạy đến bao chung quanh nhà.
5 Bọn đó gọi Lót mà hỏi rằng: Những khách đã vào nhà ngươi buổi chiều tối nay ở đâu? Hãy dẫn họ ra đây, hầu cho chúng ta được biết.

Sự sa đọa của Sô-đôm được bộc lộ ngay lập tức khi tất cả những người nam trong thành, từ trẻ đến già, bao vây nhà của Lót. Yêu cầu của họ muốn “được biết” những vị khách là một biểu hiện trắng trợn của sự vô luân tình dục. Sự việc này cho thấy mức độ gian ác của Sô-đôm và lý do tại sao sự phán xét của Đức Chúa Trời đã gần đến. Việc tất cả dân chúng từ mọi khu vực trong thành đều tham gia nhấn mạnh rằng sự băng hoại đã lan rộng. Cuộc đối đầu này cho thấy sự sụp đổ hoàn toàn về mặt đạo đức của thành phố, là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hủy diệt của nó.

Sáng Thế Ký 19:6-8 (VIE1934)
6 Lót bèn ra đến cùng dân-chúng ở ngoài cửa, rồi đóng cửa lại,
7 và nói cùng họ rằng: Nầy, tôi xin anh em đừng làm điều ác đó!
8 Đây, tôi sẵn có hai con gái chưa chồng, tôi sẽ đưa chúng nó cho anh em, rồi mặc tình anh em tính làm sao tùy ý; miễn đừng làm chi hại cho hai người kia; vì cớ đó, nên họ đến núp bóng mái nhà tôi.

Lót bước ra ngoài để đối diện với đám đông, cố gắng bảo vệ những vị khách của mình. Ông nhận biết mức độ nghiêm trọng của tội lỗi họ và cầu xin họ đừng làm điều gian ác. Trong sự tuyệt vọng, Lót đưa ra một đề nghị đáng lo ngại, đề nghị các con gái mình thay thế. Điều này phản ánh quan niệm văn hóa về việc phải bảo vệ khách bằng mọi giá, nhưng đồng thời đề nghị ấy cho thấy cảm thức đúng sai của ông đã bị tổn hại do sống lâu trong Sô-đôm. Hành động của Lót cho thấy sự tương phản giữa mong muốn bảo vệ các thiên sứ và tình trạng đạo đức đã bị tổn hại vì môi trường băng hoại xung quanh.

Sáng Thế Ký 19:9-11 (VIE1934)
9 Bọn dân-chúng nói rằng: Ngươi hãy tránh chỗ khác! Lại tiếp rằng: Người nầy đến đây như kẻ kiều-ngụ, lại muốn đoán-xét nữa sao! Vậy, thôi! chúng ta sẽ đãi ngươi bạc-tệ hơn hai khách kia. Đoạn, họ lấn ép Lót mạnh quá, và tràn đến đặng phá cửa.
10 Nhưng hai thiên-sứ giơ tay ra, đem Lót vào nhà, và đóng cửa lại,
11 đoạn, hành-phạt bọn dân-chúng ở ngoài cửa, từ trẻ đến già, đều quáng lòa mắt, cho đến đỗi tìm cửa mệt mà không được.

Đám đông quay sang chống lại Lót, cáo buộc ông là người ngoại lai nhưng lại muốn xét đoán họ, rồi đe dọa sẽ đối xử với ông còn tệ hơn với những vị khách. Sự thù địch của họ cho thấy mức độ băng hoại đã trở nên sâu sắc đến mức họ không còn chấp nhận bất kỳ sự kiềm chế đạo đức nào. Các thiên sứ can thiệp, kéo Lót vào nơi an toàn và khiến những kẻ tấn công bị quáng lòa. Hành động thiêng liêng này cho thấy quyền năng của Đức Chúa Trời và sự bảo vệ của Ngài đối với Lót và gia đình ông. Dù bị quáng lòa, những người này vẫn cố gắng tìm cửa, cho thấy sự gian ác cực độ trong lòng họ.

Sáng Thế Ký 19:12-13 (VIE1934)
12 Hai thiên-sứ bèn hỏi Lót rằng: Ngươi còn có ai tại đây nữa chăng? Rể, con trai, con gái và ai trong thành thuộc về ngươi, hãy đem ra khỏi hết đi!
13 Chúng ta sẽ hủy-diệt chỗ nầy, vì tiếng kêu oan về dân thành nầy đã thấu lên đến Đức Giê-hô-va, nên Ngài sai chúng ta xuống mà hủy-diệt.

Các thiên sứ tiết lộ cho Lót biết sứ mạng của họ — họ được sai đến để hủy diệt thành vì tiếng kêu về tội lỗi của thành đã dâng lên trước mặt Đức Chúa Trời. Họ truyền cho Lót tập hợp bất cứ thành viên nào trong gia đình sẵn sàng rời đi. Mệnh lệnh này làm nổi bật lòng thương xót của Đức Chúa Trời, khi Ngài ban cho gia đình Lót một cơ hội thoát khỏi sự phán xét sắp đến. Cụm từ “tiếng kêu oan” nhấn mạnh rằng sự gian ác của Sô-đôm đã đạt đến mức cần có sự can thiệp của Đức Chúa Trời. Sự hủy diệt được trình bày vừa là một hành động công bình, vừa là một hành động ân điển trong việc giải cứu người công bình.

Sáng Thế Ký 19:14 (VIE1934)
14 Lót bèn đi ra và nói cùng rể đã cưới con gái mình rằng: Hãy chỗi-dậy, đi ra khỏi chốn nầy, vì Đức Giê-hô-va sẽ hủy-diệt thành. Nhưng các chàng rể tưởng người nói chơi.

Lót, vâng theo lời cảnh báo của các thiên sứ, cố gắng thuyết phục các con rể rời khỏi thành. Tuy nhiên, họ xem lời khẩn cấp của ông như một trò đùa, cho thấy họ không tin sự hủy diệt sắp xảy ra. Phản ứng này minh họa sự mù lòa thuộc linh và sự tự mãn của những người sống trong Sô-đôm. Việc họ từ chối xem trọng lời cảnh báo cuối cùng dẫn đến sự hủy diệt của họ. Khoảnh khắc này cho thấy bi kịch của việc con người phớt lờ lời cảnh báo của Đức Chúa Trời và những nguy hiểm của việc sống trong một môi trường tội lỗi.

Sáng Thế Ký 19:15-16 (VIE1934)
15 Đến sáng, hai thiên-sứ hối Lót và phán rằng: Hãy thức dậy dẫn vợ và hai con gái ngươi đương ở đây ra, e khi ngươi cũng chết lây về việc hình-phạt của thành nữa chăng.
16 Nhưng Lót lần-lữa; vì cớ Đức Giê-hô-va thương-xót Lót, nên hai thiên-sứ nắm lấy tay kéo người, vợ cùng hai con gái người, và dẫn ra khỏi thành.

Khi bình minh đến gần, tính khẩn cấp của tình hình càng gia tăng. Các thiên sứ thúc giục Lót lập tức rời đi cùng vợ và hai con gái. Mặc dù đã nhận được lời cảnh báo rõ ràng, Lót vẫn lần lữa, có lẽ vì miễn cưỡng hoặc còn gắn bó với cuộc sống của mình tại Sô-đôm. Trong một hành động của lòng thương xót thiêng liêng, các thiên sứ nắm lấy tay Lót và gia đình ông, đưa họ ra khỏi thành. Sự can thiệp này nhấn mạnh ân điển của Đức Chúa Trời trong việc giải cứu người công bình, ngay cả khi họ còn do dự. Điều đó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhanh chóng đáp lại những lời cảnh báo của Đức Chúa Trời.

Sáng Thế Ký 19:17 (VIE1934)
17 Vả, khi hai thiên-sứ dẫn họ ra khỏi rồi, một trong hai vị nói rằng: Hãy chạy trốn cứu lấy mạng, đừng ngó lại sau và cũng đừng dừng bước lại nơi nào ngoài đồng bằng; hãy chạy trốn lên núi, kẻo phải bỏ mình chăng.

Sau khi Lót và gia đình được đưa ra khỏi thành, các thiên sứ truyền cho họ những chỉ dẫn nghiêm khắc: phải chạy trốn để cứu mạng và không được nhìn lại. Họ được cảnh báo phải chạy lên núi để tránh bị cuốn vào sự hủy diệt. Mệnh lệnh không được nhìn lại tượng trưng cho sự đoạn tuyệt hoàn toàn với đời sống cũ tại Sô-đôm, bỏ lại quá khứ và tiến về phía trước trong sự vâng phục Đức Chúa Trời. Điều đó cũng biểu thị tính khẩn cấp và nghiêm trọng của tình hình, khi sự do dự hoặc gắn bó với thành phố tội lỗi có thể dẫn đến sự hủy diệt.

Sáng Thế Ký 19:18-20 (VIE1934)
18 Lót đáp lại rằng: Lạy Chúa, không được!
19 Nầy, tôi-tớ đã được ơn trước mặt Chúa; Chúa đã tỏ lòng nhân-từ rất lớn cùng tôi mà cứu tròn sự sống tôi. Nhưng tôi chạy trốn lên núi không kịp trước khi tai-nạn đến, thì tôi phải chết.
20 Kìa, thành kia đã nhỏ, lại cũng gần đặng tôi có thế ẩn mình. Ôi! chớ chi Chúa cho tôi ẩn đó đặng cứu tròn sự sống tôi. Thành nầy há chẳng phải nhỏ sao?

Bất chấp lời cảnh báo khẩn cấp, Lót bày tỏ nỗi sợ về việc chạy lên núi, cho rằng mình có thể không sống sót trong hành trình đó. Ông xin được chạy đến một thành nhỏ gần đó. Lời cầu xin của ông cho thấy ông do dự trong việc hoàn toàn tin cậy chỉ dẫn của các thiên sứ, có lẽ phản ánh sự gắn bó còn sót lại với cuộc sống thành thị. Lót nhìn nhận lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong việc cứu mạng mình nhưng đồng thời tìm kiếm một lựa chọn thuận tiện hơn. Việc xin được trú ẩn trong một thành nhỏ cho thấy ông chưa hoàn toàn tin cậy rằng Đức Chúa Trời có thể bảo vệ mình trên núi, nhưng Đức Chúa Trời vẫn chấp nhận lời cầu xin của ông.

Sáng Thế Ký 19:21-22 (VIE1934)
21 Thiên-sứ phán rằng: Đây, ta ban ơn nầy cho ngươi nữa, sẽ không hủy-diệt thành của ngươi đã nói đó đâu.
22 Mau mau hãy lại ẩn đó, vì ta không làm chi được khi ngươi chưa vào đến nơi. Bởi cớ ấy, nên người ta gọi tên thành nầy là Xoa.

Đáp lại lời cầu xin của Lót, thiên sứ cho phép ông chạy đến thành nhỏ Xoa và tha thành ấy khỏi sự hủy diệt. Thiên sứ nhấn mạnh tính khẩn cấp khi nói rằng sự phán xét trên Sô-đôm không thể bắt đầu cho đến khi Lót và gia đình ông đến nơi an toàn. Điều này cho thấy mức độ lớn lao của lòng thương xót Đức Chúa Trời dành cho Lót, không chỉ cứu mạng ông mà còn đáp ứng nỗi sợ của ông. Xoa, có nghĩa là “nhỏ,” trở thành nơi trú ẩn, cho thấy sự kiên nhẫn và lòng thương xót của Đức Chúa Trời.

Sáng Thế Ký 19:23-25 (VIE1934)
23 Khi mặt trời mọc lên khỏi đất, thì Lót vào đến thành Xoa.
24 Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm-sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ,
25 hủy-diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân-sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.

Ngay khi Lót đến Xoa, sự phán xét trên Sô-đôm và Gô-mô-rơ bắt đầu. Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm-sanh và lửa từ trời xuống, hoàn toàn hủy diệt các thành, dân cư và ngay cả đất đai. Hình ảnh sống động này mô tả sự nghiêm khắc của sự phán xét Đức Chúa Trời đối với tội lỗi không ăn năn. Sự hủy diệt hoàn toàn đến mức không còn sự sống hay thảm thực vật, cho thấy mức độ nghiêm trọng của sự gian ác tại Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Sự kiện này trở thành một lời nhắc nhở mạnh mẽ về hậu quả của việc tiếp tục sống trong tội lỗi và chống nghịch Đức Chúa Trời.

Sáng Thế Ký 19:26 (VIE1934)
26 Nhưng vợ của Lót quay ngó lại đằng sau mình, nên hóa ra một tượng muối.

Vợ của Lót, không vâng theo mệnh lệnh không được nhìn lại, quay lại nhìn sự hủy diệt của Sô-đôm và lập tức hóa thành một tượng muối. Hành động của bà cho thấy sự gắn bó còn sót lại với thành phố tội lỗi, và hình phạt dành cho bà minh họa tính nghiêm trọng của những lời cảnh báo từ Đức Chúa Trời. Việc nhìn lại tượng trưng cho một tấm lòng chia đôi, không hoàn toàn sẵn sàng rời bỏ quá khứ tội lỗi. Số phận của bà là một lời nhắc nhở nghiêm khắc rằng sự vâng phục một phần hoặc sự do dự có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng trước sự phán xét của Đức Chúa Trời.

Sáng Thế Ký 19:27-29 (VIE1934)
27 Áp-ra-ham dậy sớm, đi đến nơi mà người đã đứng chầu Đức Giê-hô-va,
28 ngó về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, cùng khắp xứ ở đồng bằng, thì thấy từ dưới đất bay lên một luồng khói, như khói của một lò lửa lớn.
29 Vả, khi Đức Chúa Trời hủy-diệt các thành nơi đồng bằng, tức là thành Lót ở, thì nhớ đến Áp-ra-ham, cứu Lót ra khỏi chốn phá-tan đó.

Áp-ra-ham, người đã cầu thay cho Sô-đôm, chứng kiến hậu quả của sự hủy diệt từ xa. Khói bốc lên từ vùng đất xác nhận rằng Đức Chúa Trời đã thực hiện sự phán xét như Ngài đã phán. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời nhớ đến Áp-ra-ham và lời cầu thay của ông, rồi cứu Lót khỏi chốn phá tan. Điều này cho thấy ý nghĩa của sự cầu thay và sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với người công bình. Dù sự hủy diệt xảy ra, lòng thương xót của Đức Chúa Trời vẫn được bày tỏ qua việc cứu Lót, càng nhấn mạnh sự kết hợp giữa sự phán xét và ân điển.

Sáng Thế Ký 19:30 (VIE1934)
30 Lót ở Xoa thì sợ hãi, nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia.

Mặc dù ban đầu Lót chạy đến Xoa, ông trở nên sợ hãi khi ở lại đó, có lẽ vì cảm giác bất an sau khi chứng kiến sự hủy diệt của Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Lót cùng hai con gái lên núi và trú trong một hang đá. Việc trở lại nơi cô lập này tượng trưng cho sự mất ổn định trong đời sống của Lót. Quyết định rời Xoa, dù thành ấy đã được tha, cho thấy ông vẫn sống trong sợ hãi và bị tách khỏi thế giới bên ngoài. Hang đá, một biểu tượng của sự hoang vắng, làm nổi bật sự thay đổi lớn lao từ đời sống trong một thành phố đông đúc sang cuộc sống trong sợ hãi và cô lập.

Sáng Thế Ký 19:31-32 (VIE1934)
31 Cô lớn nói cùng em mình rằng: Cha ta đã già, mà không còn ai trên mặt đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ.
32 Hè! chúng ta hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại.

Hai con gái của Lót, bị cô lập trên núi, cho rằng không còn người nam nào để kết hôn và duy trì dòng dõi gia đình. Nỗi sợ không có con khiến họ lập kế hoạch làm cho cha uống rượu rồi ăn ở với ông để sinh con. Hành động tuyệt vọng này cho thấy ảnh hưởng của nền văn hóa vô luân tại Sô-đôm đã tác động đến cả hai con gái của Lót. Họ đã tìm đến sự loạn luân, điều trái với những nguyên tắc đạo đức của Đức Chúa Trời. Cảm thức sai lạc về trách nhiệm duy trì dòng dõi của cha cho thấy ảnh hưởng lâu dài của việc sống trong một xã hội băng hoại và những giá trị méo mó mà họ đã mang theo.

Sáng Thế Ký 19:33-35 (VIE1934)
33 Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha mình; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết.
34 Qua ngày mai, chị nói cùng em rằng: Nầy, đêm hôm qua ta đã nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha nữa, rồi em hãy lại nằm cùng người, để lưu-truyền dòng-giống cha lại.
35 Đêm đó, hai nàng lại phục rượu cho cha mình nữa, rồi nàng nhỏ thức dậy lại nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết.

Hai con gái của Lót thực hiện kế hoạch của mình, cho cha uống rượu đến mức ông không còn biết những gì đang xảy ra. Người con gái lớn đến nằm với cha mình, lợi dụng tình trạng say rượu của ông. Ngày hôm sau, nàng khuyến khích em gái làm điều tương tự và lặp lại kế hoạch. Lót hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra vì tình trạng say rượu, nên ông đã vô tình tham dự vào tội lỗi này. Tình huống này phản ánh sự suy thoái đạo đức bi thảm trong gia đình Lót, cho thấy ngay cả những người công bình cũng có thể chịu ảnh hưởng của môi trường tội lỗi xung quanh. Hành động của hai con gái cho thấy sự tuyệt vọng và sự thiếu tin cậy nơi khả năng Đức Chúa Trời chu cấp cho họ trong tình trạng cô lập.

Sáng Thế Ký 19:36 (VIE1934)
36 Vậy, hai con gái của Lót do nơi cha mình mà thọ thai.

Kết quả của hành động đó là cả hai con gái của Lót đều mang thai bởi cha mình. Câu này ghi lại hậu quả của kế hoạch tuyệt vọng của họ và cho thấy những hậu quả nghiêm trọng của một quyết định sai trái về mặt đạo đức. Mối quan hệ loạn luân này về sau sẽ có những hậu quả lịch sử đáng kể, vì những người con sinh ra từ đó trở thành tổ phụ của hai dân tộc về sau có xung đột với Y-sơ-ra-ên. Những hậu quả bi thảm của tội lỗi không chỉ xuất hiện ngay trong gia đình mà còn kéo dài đến các thế hệ tương lai.

Sáng Thế Ký 19:37-38 (VIE1934)
37 Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ của dân Mô-áp đến bây giờ.
38 Người em cũng sanh đặng một con trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây giờ.

Những câu này mô tả hậu quả của hành động do hai con gái của Lót thực hiện sau sự hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Lo sợ rằng không còn người nam để sinh con, họ đã lừa cha mình và sinh con với ông qua mối quan hệ loạn luân. Người con gái lớn đặt tên con mình là Mô-áp, người trở thành tổ phụ của dân Mô-áp, một dân tộc về sau có mối quan hệ căng thẳng với Y-sơ-ra-ên. Người con gái nhỏ đặt tên con mình là Bên-Am-mi, tổ phụ của dân Am-môn, một dân tộc khác thường chống nghịch Y-sơ-ra-ên. Đoạn này trở thành tường thuật nền tảng về nguồn gốc của hai dân tộc này, cả hai đều đóng những vai trò đáng kể trong lịch sử Kinh Thánh về sau, thường xuất hiện như những kẻ thù của Y-sơ-ra-ên.

bottom of page