
Sáng Thế Ký 26
Sáng Thế Ký 26 thuật lại những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời với Y-sác, tương tự như những lời Ngài đã ban cho cha ông là Áp-ra-ham. Y-sác phải đối diện với những thử thách trong thời kỳ đói kém, bao gồm những cuộc giao tiếp với A-bi-mê-léc, những tranh chấp về các giếng nước và sự bảo đảm của Đức Chúa Trời. Chương này làm nổi bật sự thành tín của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện những lời hứa của Ngài và cho thấy Y-sác, cũng như Áp-ra-ham, được ban phước bất chấp những khó khăn và áp lực từ bên ngoài.
Sáng Thế Ký 26:1-3 (VIE1934)
1 Trừ cơn đói-kém thứ nhứt trong đời Áp-ra-ham, bấy giờ tại xứ lại có một lần nữa. Y-sác bèn đi đến A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin, tại Ghê-ra.
2 Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Chớ xuống xứ Ê-díp-tô; hãy ở lại xứ mà ta sẽ chỉ cho.
3 Hãy ngụ trong xứ nầy, ta sẽ ở cùng ngươi và ban phước cho ngươi; vì ta sẽ cho ngươi cùng dòng-dõi ngươi các xứ nầy và ta sẽ làm thành lời ta đã thề cùng Áp-ra-ham, cha ngươi.
Y-sác phải đối diện với một cơn đói kém, tương tự như điều Áp-ra-ham, cha ông, đã từng trải qua. Phản ứng tự nhiên trong thời điểm như vậy có thể là tìm nơi trú ẩn tại Ai Cập, nơi được biết đến với nguồn tài nguyên dồi dào. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời truyền Y-sác ở lại xứ Ghê-ra và tin cậy sự chu cấp của Ngài. Mệnh lệnh này đi kèm với sự tái khẳng định giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham, trong đó Ngài hứa ban cho Y-sác những phước lành tương tự — đất đai, dòng dõi và sự ưu ái thiêng liêng. Sự hướng dẫn và bảo đảm của Đức Chúa Trời là điều quan trọng khi Y-sác bước vào vai trò là người kế thừa những lời hứa giao ước này.
Sáng Thế Ký 26:4-5 (VIE1934)
4 Ta sẽ thêm dòng-dõi ngươi nhiều như sao trên trời, sẽ cho họ các xứ nầy; hết thảy dân thế-gian đều sẽ nhờ dòng-dõi ngươi mà được phước;
5 vì Áp-ra-ham đã vâng lời ta và đã giữ điều ta phán dạy, lịnh, luật và lệ của ta.
Đức Chúa Trời tiếp tục nhấn mạnh phạm vi rộng lớn của lời hứa dành cho Y-sác. Cụm từ “dòng-dõi ngươi nhiều như sao trên trời” nhắc lại lời hứa trước đây của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham. Hơn nữa, qua dòng dõi của Y-sác, tất cả các dân tộc trên đất sẽ được phước, cuối cùng hướng đến sự đến của Đấng Christ. Điều đáng chú ý là phước lành này được gắn với sự vâng phục của Áp-ra-ham. Điều đó cho thấy mặc dù giao ước dựa trên ân điển của Đức Chúa Trời, sự đáp ứng của con người trong sự vâng phục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận trọn vẹn những lời hứa ấy.
Sáng Thế Ký 26:6-7 (VIE1934)
6 Vậy, Y-sác ở tại Ghê-ra.
7 Bởi nàng Rê-bê-ca sắc-sảo dung-nhan, nên khi dân xứ đó hỏi thăm vợ người, thì người đáp rằng: “Ấy là em gái tôi,” e khi nói: “Ấy là vợ tôi,” thì họ sẽ giết mình chăng.
Y-sác, giống như cha mình là Áp-ra-ham, phải đối diện với một hoàn cảnh khiến ông sợ mất mạng. Khi những người ở Ghê-ra hỏi về Rê-bê-ca, Y-sác nói rằng nàng là em gái mình. Nỗi sợ bị giết vì người vợ xinh đẹp của mình phản chiếu hành động mà Áp-ra-ham đã từng thực hiện hai lần. Mặc dù Đức Chúa Trời đã hứa bảo vệ ông, Y-sác vẫn dùng sự lừa dối vì sợ hãi theo bản tính tự nhiên, cho thấy sự yếu đuối và bất toàn của ông. Khoảnh khắc này tiếp tục chủ đề về sự tin cậy đối lập với sự sợ hãi trước sự chu cấp và bảo vệ của Đức Chúa Trời.
Sáng Thế Ký 26:8-9 (VIE1934)
8 Vả, người ngụ tại xứ đó cũng đã lâu; một ngày kia A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin, ngó ngang qua cửa sổ, thấy Y-sác đương giỡn-chơi cùng Rê-bê-ca, vợ người,
9 bèn đòi Y-sác mà rằng: Quả thật là vợ ngươi đó; sao có nói: Ấy là em gái tôi? Y-sác đáp rằng: Vì tôi có thầm nói: Chớ khá vì nàng mà tôi phải bỏ mình.
Sau một thời gian ở Ghê-ra, vua A-bi-mê-léc nhìn qua cửa sổ và nhận thấy cách Y-sác đối xử với Rê-bê-ca cho thấy nàng chắc chắn là vợ ông chứ không phải em gái. Điều này dẫn đến cuộc đối chất, trong đó Y-sác thú nhận rằng ông sợ bị giết. Hoàn cảnh này phản ánh sự yếu đuối trong hành động của Y-sác, khi ông để sự sợ hãi thay vì đức tin điều khiển mình. Tuy nhiên, sự việc cũng cho thấy sự bảo vệ của Đức Chúa Trời, vì việc A-bi-mê-léc phát hiện ra sự thật đã ngăn chặn những hậu quả có thể xảy ra từ sự lừa dối của Y-sác. Cuộc gặp gỡ này củng cố tầm quan trọng của sự thành thật và tin cậy nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời.
Sáng Thế Ký 26:10-11 (VIE1934)
10 A-bi-mê-léc hỏi: Ngươi làm chi cho chúng ta vậy? Ngộ có một người dân đến nằm cùng vợ ngươi, ngươi làm cho chúng ta phải phạm tội!
11 A-bi-mê-léc bèn truyền lịnh cho cả dân-chúng rằng: Kẻ nào động đến người nầy, hay là vợ người nầy, thì sẽ bị xử-tử.
A-bi-mê-léc bày tỏ sự phẫn nộ trước sự lừa dối của Y-sác, nhận ra tai họa nghiêm trọng mà điều đó có thể gây ra cho dân mình. Ông hiểu rằng lời nói dối của Y-sác có thể dẫn đến những hậu quả về đạo đức và thiêng liêng. Để ngăn chặn nguy hiểm tiếp diễn, A-bi-mê-léc ban lệnh bảo vệ Y-sác và Rê-bê-ca, đe dọa xử tử bất kỳ ai làm hại họ. Mặc dù sự sợ hãi khiến Y-sác nói dối, Đức Chúa Trời can thiệp qua A-bi-mê-léc để bảo vệ ông và ngăn điều tai hại xảy ra. Sự việc này cũng cho thấy vị vua Phi-li-tin có sự nhìn nhận đối với những giới hạn đạo đức.
Sáng Thế Ký 26:12-14 (VIE1934)
12 Y-sác gieo hột giống trong xứ đó; năm ấy gặt được bội trăm phần; vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho.
13 Người nên thạnh-vượng, của-cải càng ngày càng thêm cho đến đỗi người trở nên rất lớn.
14 Người có nhiều bầy chiên, bầy bò và tôi-tớ rất đông; bởi cớ ấy, dân Phi-li-tin đem lòng ganh-ghẻ.
Y-sác ở lại Ghê-ra theo lời Đức Chúa Trời và kinh nghiệm những phước lành lớn lao. Công việc gieo trồng của ông đem lại một mùa gặt gấp trăm lần, là dấu hiệu của sự ưu ái thiêng liêng. Của cải của ông tiếp tục gia tăng, với nhiều bầy chiên, bầy bò và rất nhiều tôi tớ. Tuy nhiên, phước lành này khiến người Phi-li-tin ganh ghét ông. Khuôn mẫu này lặp lại những hoàn cảnh trước đó trong Sáng Thế Ký, nơi dân của Đức Chúa Trời được thạnh vượng dù phải đối diện với sự chống đối. Sự thành công của Y-sác là một bằng chứng về sự thành tín của Đức Chúa Trời, ngay cả trong xứ của người ngoại bang và giữa những hoàn cảnh khó khăn.
Sáng Thế Ký 26:15-17 (VIE1934)
15 Mấy cái giếng lúc trước đầy-tớ của Áp-ra-ham, cha người, đã đào, bây giờ đều bị dân Phi-li-tin lấp đất lại hết.
16 A-bi-mê-léc nói cùng Y-sác rằng: Hãy ra khỏi nơi ta, vì ngươi thạnh-vượng hơn chúng ta bội phần.
17 Vậy, Y-sác bỏ chốn nầy đi đến đóng trại tại trũng Ghê-ra và ở đó.
Khi sự giàu có và ảnh hưởng của Y-sác ngày càng gia tăng, người Phi-li-tin đáp lại bằng cách phá hoại những giếng nước mà cha ông đã đào, một hành động nghiêm trọng trong vùng đất phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước. A-bi-mê-léc, nhận thấy quyền lực ngày càng lớn của Y-sác, yêu cầu ông rời đi vì lo sợ có thể xảy ra xung đột. Mặc dù gặp sự thù địch, Y-sác đáp lại một cách hòa bình, di chuyển gia đình và tài sản đến trũng Ghê-ra. Hoàn cảnh này cho thấy cả phước lành của Đức Chúa Trời trên đời sống Y-sác lẫn những thử thách đi kèm với phước lành đó, khi người khác có thể cảm thấy bị đe dọa bởi sự thạnh vượng của ông.
Sáng Thế Ký 26:18-20 (VIE1934)
18 Y-sác bèn đào lại mấy cái giếng người ta đã đào trong đời Áp-ra-ham, cha mình, mà bị dân Phi-li-tin lấp đất lại khi Áp-ra-ham qua đời, và đặt tên mấy giếng đó như tên của cha mình đã đặt.
19 Các đầy-tớ của Y-sác còn đào thêm giếng nơi trũng, gặp được một giếng nước mạch.
20 Nhưng bọn chăn chiên Ghê-ra tranh-giành cùng bọn chăn chiên của Y-sác, mà rằng: Nước đó của chúng ta; nên người đặt tên giếng nầy là Ê-sết.
Y-sác tiếp tục di sản của cha mình bằng cách đào lại những giếng đã bị người Phi-li-tin lấp sau khi Áp-ra-ham qua đời. Hành động này tượng trưng cho mong muốn của Y-sác khôi phục những phước lành và di sản đã được truyền lại cho mình. Tuy nhiên, xung đột nảy sinh khi những người chăn gia súc của Ghê-ra tranh chấp quyền sở hữu nguồn nước mà những người đầy tớ của Y-sác tìm thấy. Việc đặt tên giếng là Ê-sết, nghĩa là “tranh-giành,” cho thấy Y-sác nhìn nhận sự xung đột nhưng không làm cho tình hình trở nên nghiêm trọng hơn, bày tỏ sự kiên nhẫn và mong muốn hòa bình bất chấp sự chống đối.
Sáng Thế Ký 26:21-22 (VIE1934)
21 Kế ấy, các đầy-tớ đào một giếng khác, thì bị tranh-giành nhau nữa; người đặt tên giếng nầy là Sít-na.
22 Đoạn, người bỏ chỗ đó đi đào một giếng khác; về giếng nầy, họ không tranh-giành nhau, nên người đặt tên là Rê-hô-bốt, mà rằng: Bây giờ Đức Giê-hô-va đã để cho chúng ta được ở rộng-rãi, và ta sẽ đặng thịnh-vượng trong xứ.
Sự kiên trì tìm kiếm hòa bình của Y-sác được thể hiện khi ông đào một giếng khác nhưng lại tiếp tục gặp xung đột. Giếng này được gọi là Sít-na, nghĩa là “giành nhau” hoặc “đối nghịch,” phản ánh những thử thách liên tục mà Y-sác gặp phải. Tuy nhiên, Y-sác không đáp lại bằng sự thù địch. Cuối cùng, sau khi di chuyển và đào một giếng khác, ông không còn gặp sự chống đối. Ông gọi giếng ấy là Rê-hô-bốt, nghĩa là “rộng-rãi,” và nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời đã cung cấp một nơi để ông sống trong bình an và thịnh vượng. Khoảnh khắc này bày tỏ sự chu cấp của Đức Chúa Trời ngay cả giữa những khó khăn lặp đi lặp lại.
Sáng Thế Ký 26:23-25 (VIE1934)
23 Y-sác ở đó đi, dời lên Bê-e-Sê-ba.
24 Đêm đó Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, cha ngươi; chớ sợ chi, ta ở cùng ngươi, sẽ ban phước cho và thêm dòng-dõi ngươi, vì cớ Áp-ra-ham là tôi-tớ ta.
25 Y-sác lập một bàn-thờ, cầu-khẩn danh Đức Giê-hô-va và đóng trại tại đó. Đoạn, các đầy-tớ người đào một cái giếng tại nơi ấy.
Y-sác đi lên Bê-e-Sê-ba, nơi Đức Chúa Trời hiện đến với ông và tái khẳng định lời hứa giao ước. Sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho Y-sác là một lời bảo đảm: “chớ sợ chi, ta ở cùng ngươi.” Cuộc gặp gỡ thiêng liêng này nhắc Y-sác rằng sự hiện diện và phước lành của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục, dựa trên những lời hứa đã ban cho Áp-ra-ham. Đáp lại, Y-sác lập một bàn thờ, cầu khẩn Đức Chúa Trời và bày tỏ đức tin qua sự thờ phượng. Những người đầy tớ của ông cũng đào một cái giếng, tiếp tục chủ đề về sự chu cấp và phước lành của Đức Chúa Trời trong vùng đất Ngài đã dẫn ông đến.
Sáng Thế Ký 26:26-27 (VIE1934)
26 Vua A-bi-mê-léc ở Ghê-ra đi đến viếng Y-sác, có A-hu-sát, bạn mình, và Phi-côn, quan tổng-binh mình, đi theo.
27 Y-sác bèn hỏi rằng: Các người ghét tôi, đã đuổi tôi ra khỏi nơi mình, sao còn đi đến tôi mà chi?
Những xung đột trước đây với A-bi-mê-léc không ngăn vị vua này tìm đến Y-sác một lần nữa, lần này cùng với bạn mình và quan tổng binh. Y-sác có lý do để đặt câu hỏi về động cơ của họ, vì ông nhớ rằng A-bi-mê-léc trước đó đã yêu cầu ông rời khỏi xứ. Cuộc gặp gỡ này nhấn mạnh sự căng thẳng giữa sự gia tăng quyền lực của Y-sác và việc người Phi-li-tin ngày càng nhận ra điều đó. Đồng thời, nó mở đường cho khả năng giải quyết, vì bản tính hòa bình của Y-sác tạo cơ hội cho thương lượng thay vì xung đột.
Sáng Thế Ký 26:28-29 (VIE1934)
28 Chúng đáp rằng: Chúng tôi đã thấy rõ ràng Đức Giê-hô-va phù-hộ người, nên nói với nhau rằng: Phải có một lời thề giữa chúng tôi và người, để chúng ta kết giao-ước với người.
29 Hãy thề rằng: Người chẳng bao giờ làm hại chúng tôi, như chúng tôi đã không động đến người, chỉ hậu-đãi người và cho đi bình-yên. Bây giờ người được Đức Giê-hô-va ban phước cho.
A-bi-mê-léc và những người đi cùng nhìn nhận rằng bàn tay của Đức Chúa Trời rõ ràng đang ở trên Y-sác. Họ tìm kiếm một giao ước chính thức với ông, mong muốn có hòa bình và sự bảo đảm, vì nhận thấy sức mạnh ngày càng lớn và sự ưu ái thiêng liêng mà ông nhận được. Họ cho rằng mình đã đối xử tốt với Y-sác bằng cách để ông ra đi trong bình an, mặc dù thực tế tình hình phức tạp hơn thế. Dù vậy, mong muốn lập giao ước của họ cho thấy họ nhận biết rằng Y-sác đang được Đức Chúa Trời ban phước. Những lời này xác nhận Y-sác là “người được Đức Giê-hô-va ban phước,” củng cố địa vị của ông như một người được Đức Chúa Trời ưu ái.
Sáng Thế Ký 26:30-31 (VIE1934)
30 Y-sác bày một bữa tiệc, các người đồng ăn uống.
31 Qua ngày sau, chúng dậy sớm, lập lời thề với nhau. Rồi, Y-sác đưa các người đó đi về bình-yên.
Phản ứng của Y-sác trước đề nghị của A-bi-mê-léc là sự hiếu khách rộng rãi. Ông chuẩn bị một bữa tiệc, một cách thức quen thuộc để chính thức hóa những thỏa thuận và xây dựng mối quan hệ. Sáng hôm sau, họ lập lời thề với nhau, chính thức củng cố giao ước. Việc A-bi-mê-léc và những người đi cùng ra về trong bình an cho thấy những xung đột trước đây đã được giải quyết và càng khẳng định Y-sác là người yêu chuộng hòa bình và chính trực. Cuộc gặp gỡ này cho thấy Đức Chúa Trời có thể đem sự hòa giải và bình an đến ngay cả trong những mối quan hệ từng căng thẳng.
Sáng Thế Ký 26:32-33 (VIE1934)
32 Cùng trong ngày đó, các đầy-tớ của Y-sác đến đem tin cho người hay về giếng họ đã đào, rằng: Chúng tôi đã thấy có nước.
33 Người bèn đặt tên cái giếng đó là Si-ba. Vì cớ đó, nên tên thành ấy là Bê-e-Sê-ba cho đến ngày nay.
Cũng trong ngày Y-sác lập giao ước hòa bình với A-bi-mê-léc, những người đầy tớ của ông tìm thấy nước trong một cái giếng mới đào. Thời điểm của hai sự kiện này rất đáng chú ý, vì nó tượng trưng cho sự tiếp tục chu cấp và phước lành của Đức Chúa Trời sau giao ước hòa bình. Y-sác đặt tên giếng là Si-ba, nghĩa là “lời thề,” liên kết nó với giao ước được lập trong ngày hôm đó. Tên Bê-e-Sê-ba trở thành một lời nhắc nhở lâu dài về sự thành tín của Đức Chúa Trời trong việc ban cả sự bình an với người khác lẫn những nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống.
Sáng Thế Ký 26:34-35 (VIE1934)
34 Khi Ê-sau được bốn mươi tuổi, cưới Giu-đít, con gái của Bê-ê-ri, người Hê-tít; và Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người Hê-tít.
35 Hai dâu đó là một sự cay-đắng lòng cho Y-sác và Rê-bê-ca.
Chương này kết thúc bằng một lời nhắc ngắn về những cuộc hôn nhân của Ê-sau, khiến Y-sác và Rê-bê-ca đau lòng. Ê-sau cưới hai phụ nữ Hê-tít, điều này khiến cha mẹ ông không vui, có lẽ vì những cuộc hôn nhân này không phù hợp với các giá trị giao ước của gia đình, giống như Áp-ra-ham trước đó đã rõ ràng tránh việc cưới người Ca-na-an cho Y-sác. Những lựa chọn của Ê-sau báo trước sự căng thẳng tiếp tục giữa những ưu tiên của ông và di sản thuộc linh của gia đình, đồng thời chuẩn bị cho những xung đột gia đình trong tương lai. Chi tiết này cho thấy sự chia rẽ ngày càng lớn giữa Ê-sau và những lời hứa giao ước mà Đức Chúa Trời đã ban cho dòng dõi Y-sác.

