top of page

Sáng Thế Ký 30

Sáng Thế Ký 30 tiếp tục những mối quan hệ gia đình căng thẳng giữa Gia-cốp, Lê-a và Ra-chên. Chương này tập trung vào sự cạnh tranh giữa hai chị em trong việc sinh con cho Gia-cốp, dẫn đến việc những người đầy tớ gái của họ được đưa vào cuộc, và sự ra đời của thêm nhiều con trai, những người sau này sẽ trở thành tổ phụ của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên. Chương này cũng nhấn mạnh sự thịnh vượng ngày càng tăng của Gia-cốp nhờ phước lành của Đức Chúa Trời, bất chấp những nỗ lực của La-ban nhằm thao túng ông. Đây là một thời điểm then chốt trong việc hình thành các chi phái tương lai của Y-sơ-ra-ên, đồng thời bày tỏ cả sự tranh đấu của con người lẫn sự can thiệp của Đức Chúa Trời.

Sáng Thế Ký 30:1-3 (VIE1934)
1 Ra-chên thấy mình chẳng sanh con cho Gia-cốp, thì đem lòng ghen ghét chị, nói cùng Gia-cốp rằng: Hãy cho tôi có con, bằng không, tôi chết.
2 Gia-cốp nổi giận cùng Ra-chên mà rằng: Há ta được thay quyền Đức Giê-hô-va, mà không cho ngươi sanh sản sao?
3 Ra-chên rằng: Nầy con đòi Bi-la của tôi, hãy lại cùng nó, hầu cho nó sanh đẻ thay cho tôi, đặng phần tôi bởi nó cũng có con nữa.

Việc Ra-chên không thể sinh con khiến nàng rơi vào tình trạng tuyệt vọng và ghen tị với chị mình là Lê-a, người đã sinh được nhiều con. Trong nỗi thất vọng, Ra-chên đòi Gia-cốp phải cho nàng có con, nhưng Gia-cốp nhắc nàng rằng chỉ một mình Đức Chúa Trời kiểm soát khả năng thụ thai và sinh sản. Cuộc đối thoại này cho thấy quan niệm thời xưa rằng khả năng sinh sản nằm trong tay Đức Chúa Trời. Quyết định trao đầy tớ gái Bi-la cho Gia-cốp để sinh con cho mình của Ra-chên cũng tương tự như hành động của Sa-ra với A-ga trong Sáng Thế Ký 16, cho thấy áp lực mà những người phụ nữ thời đó phải chịu trong việc cung cấp người thừa kế cho gia đình.

Sáng Thế Ký 30:4-6 (VIE1934)
4 Vậy, Ra-chên đưa Bi-la làm hầu Gia-cốp, và người đi lại cùng nàng.
5 Bi-la thọ thai, sanh một con trai cho Gia-cốp.
6 Ra-chên rằng: Đức Chúa Trời đã xét tôi công bình, nhậm lời tôi, nên cho tôi một con trai; vì cớ ấy, nàng đặt tên đứa trai đó là Đan.

Kế hoạch có con qua Bi-la của Ra-chên đã thành công, và Bi-la sinh một con trai. Ra-chên xem điều này là sự can thiệp của Đức Chúa Trời, cho rằng Ngài đã xét xử và bênh vực mình. Nàng đặt tên đứa trẻ là Đan, có nghĩa là “xét đoán”, phản ánh niềm tin của nàng rằng Đức Chúa Trời đã xét đoán hoàn cảnh của nàng cách có lợi. Điều này cho thấy ngay cả việc sinh con thông qua một người thay thế cũng được nhìn nhận như một phương cách để đáp ứng những mong đợi cá nhân và kỳ vọng về sự phát triển của gia đình trong thời cổ đại.

Sáng Thế Ký 30:7-8 (VIE1934)
7 Bi-la, con đòi của Ra-chên, thọ thai nữa, và sanh một con trai thứ nhì cho Gia-cốp.
8 Ra-chên rằng: Tôi đã hết sức chống cự với chị tôi, và tôi được thắng; vì cớ ấy, nàng đặt tên đứa trai nầy là Nép-ta-li.

Bi-la sinh thêm một con trai thứ hai, và Ra-chên xem điều này như một chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với Lê-a. Nàng đặt tên đứa trẻ là Nép-ta-li, có liên hệ với ý nghĩa về sự “tranh đấu” hay “vật lộn”, qua đó thừa nhận cuộc chiến đấu cảm xúc và cá nhân mãnh liệt mà nàng cảm thấy với chị mình. Sự cạnh tranh giữa hai chị em thúc đẩy phần lớn diễn biến của câu chuyện và cho thấy họ sẵn sàng đi xa đến mức nào để có được danh dự và sự ưu ái trong gia đình thông qua việc sinh con.

Sáng Thế Ký 30:9-11 (VIE1934)
9 Lê-a thấy mình thôi sanh sản, bèn bắt Xinh-ba, con đòi mình, làm hầu cho Gia-cốp.
10 Xinh-ba, con đòi của Lê-a, sanh một con trai cho Gia-cốp.
11 Lê-a rằng: Phước biết dường bao! rồi đặt tên đứa trai đó là Gát.

Lê-a, không muốn bị Ra-chên vượt qua sau thành công của Bi-la, trao đầy tớ gái Xinh-ba của mình cho Gia-cốp. Khi Xinh-ba sinh một con trai, Lê-a đặt tên nó là Gát, một tên có thể được hiểu theo hướng “phước” hoặc “đoàn quân”. Lê-a xem sự ra đời này như một dấu hiệu về sự dồi dào và thành công. Hành động này phản ánh sự cạnh tranh vẫn tiếp diễn giữa hai chị em, khi cả hai đều tìm cách gia tăng ảnh hưởng và địa vị của mình trong gia đình bằng cách cung cấp con trai cho Gia-cốp.

Sáng Thế Ký 30:12-13 (VIE1934)
12 Xinh ba, con đòi của Lê-a, sanh một con trai thứ nhì cho Gia-cốp;
13 thì Lê-a rằng: Tôi lấy làm vui mừng dường bao! vì các con gái sẽ xưng ta được phước; nàng bèn đặt tên đứa trai đó là A-se.

Xinh-ba sinh thêm một con trai cho Lê-a, và Lê-a đặt tên nó là A-se, nghĩa là “vui mừng” hoặc “được phước”. Lê-a bày tỏ niềm vui và sự mãn nguyện, mong rằng những người khác sẽ xem nàng là người có phước vì số con cái mà nàng đã gián tiếp đem đến. Cái tên này phản ánh cảm giác viên mãn của Lê-a trong vai trò làm mẹ, bất chấp hoàn cảnh bất thường qua đó những đứa con này được sinh ra.

Sáng Thế Ký 30:14-16 (VIE1934)
14 Nhằm mùa gặt lúa mì, Ru-bên đi ra đồng gặp được những trái phong già, đem về dâng cho Lê-a, mẹ mình. Ra-chên bèn nói cùng Lê-a rằng: Xin chị hãy cho tôi những trái phong già của con chị đó.
15 Đáp rằng: Cướp chồng tao há là một việc nhỏ sao, nên mầy còn muốn lấy trái phong già của con trai tao nữa? Ra-chên rằng: Ừ thôi! chồng ta hãy ở cùng chị tối đêm nay, đổi cho trái phong già của con chị đó.
16 Đến chiều, Gia-cốp ở ngoài đồng về, thì Lê-a đến trước mặt người mà nói rằng: Chàng hãy lại cùng tôi, vì tôi đã dùng trái phong già của con tôi chịu thuê được chàng; vậy, đêm đó người lại nằm cùng nàng.

Trong câu chuyện kỳ lạ này, Ru-bên, con trai của Lê-a, tìm được những trái phong già ngoài đồng, một loại cây mà người thời đó tin rằng có khả năng hỗ trợ việc sinh sản. Ra-chên, vẫn khao khát có con, xin một phần những trái phong già đó. Câu trả lời của Lê-a cho thấy sự cay đắng của nàng đối với Ra-chên vẫn còn đó, khi nàng trách Ra-chên đã chiếm mất tình cảm của Gia-cốp. Đổi lại những trái phong già, Ra-chên đề nghị nhường cho Lê-a một đêm với Gia-cốp, khiến mối quan hệ hôn nhân gần như trở thành một sự trao đổi. Lê-a, đang khao khát có thêm con, chấp nhận sự sắp xếp này. Cảnh này cho thấy rõ hơn sự căng thẳng giữa hai chị em và những mối quan hệ phức tạp của họ với Gia-cốp.

Sáng Thế Ký 30:17-18 (VIE1934)
17 Đức Chúa Trời nhậm lời Lê-a, nàng thọ thai và sanh cho Gia-cốp một con trai thứ năm.
18 Nàng rằng: Đức Chúa Trời đã đền công tôi, vì cớ tôi đã trao con đòi cho chồng; vậy, nàng đặt tên đứa con trai đó là Y-sa-ca.

Sau đêm đó với Gia-cốp, Lê-a lại thụ thai, và nàng xem sự mang thai này như phần thưởng từ Đức Chúa Trời vì nàng đã trao Xinh-ba cho chồng. Nàng đặt tên đứa trẻ là Y-sa-ca, mang ý nghĩa liên quan đến “phần thưởng” hoặc “tiền công”, vì nàng xem hành động của mình như đã được Đức Chúa Trời đền đáp. Điều này nhấn mạnh niềm tin rằng Đức Chúa Trời có liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống gia đình và việc sinh sản, khi Lê-a quy những phước lành của mình trực tiếp cho Đức Chúa Trời.

Sáng Thế Ký 30:19-20 (VIE1934)
19 Lê-a thọ thai nữa, sanh một con trai thứ sáu cho Gia-cốp,
20 bèn nói rằng: Đức Chúa Trời ban cho tôi một vật quí báu; lần nầy chồng sẽ ở cùng tôi, vì đã sanh cho người sáu con trai rồi. Nàng đặt tên đứa con trai nầy là Sa-bu-lôn.

Lê-a tiếp tục sinh con và xem người con trai thứ sáu này là một phước lành đặc biệt từ Đức Chúa Trời. Nàng đặt tên nó là Sa-bu-lôn, mang ý nghĩa “ở” hay “vinh dự”, bày tỏ hy vọng rằng Gia-cốp sẽ dành cho nàng nhiều tình cảm hơn vì nàng đã sinh cho ông nhiều con trai. Lời của Lê-a cho thấy nàng khao khát sâu sắc tình yêu và sự công nhận của chồng, điều mà nàng liên kết với khả năng sinh con. Mặc dù đã sinh nhiều con trai, Lê-a vẫn mong Gia-cốp yêu thương và quan tâm đến mình hơn, tin rằng mỗi đứa trẻ có thể kéo ông lại gần nàng hơn.

Sáng Thế Ký 30:21 (VIE1934)
21 Kế đó, nàng sanh một con gái, đặt tên là Ði-na.

Lê-a cũng sinh một con gái tên là Đi-na. Mặc dù trong bối cảnh thừa kế và di sản gia đình, con gái không được coi trọng như con trai, Đi-na sau này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong câu chuyện về gia đình Gia-cốp. Sự ra đời của nàng được ghi lại ngắn gọn ở đây, nhưng nàng sẽ trở thành nhân vật trung tâm trong một chương sau liên quan đến những căng thẳng giữa gia đình Gia-cốp và các dân cư chung quanh.

Sáng Thế Ký 30:22-24 (VIE1934)
22 Đức Chúa Trời nhớ lại Ra-chên, bèn nhậm lời và cho nàng sanh sản.
23 Nàng thọ thai, sanh một con trai, mà rằng: Đức Chúa Trời đã rửa sự xấu hổ cho tôi rồi;
24 bèn đặt tên đứa trai đó là Giô-sép; lại nói rằng: Cầu xin Đức Giê-hô-va thêm cho một con trai nữa!

Cuối cùng, sau nhiều năm son sẻ và cạnh tranh với chị mình, Ra-chên thụ thai và sinh một con trai. Nàng đặt tên nó là Giô-sép, diễn tả ý “xin Ngài thêm”, bày tỏ hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho nàng thêm một người con nữa. Lời Ra-chên rằng Đức Chúa Trời đã “rửa sự xấu hổ” cho nàng cho thấy nàng cảm nhận sâu sắc thế nào về sự hổ thẹn trong xã hội và cá nhân do không có con trong nền văn hóa của mình. Sự ra đời của Giô-sép là một khoảnh khắc rất quan trọng trong cuộc đời Ra-chên, đánh dấu sự đáp lời cho khát vọng lâu dài có một đứa con của chính mình, đồng thời báo trước vai trò quan trọng mà Giô-sép sẽ giữ trong lịch sử Y-sơ-ra-ên.

Sáng Thế Ký 30:25-26 (VIE1934)
25 Khi Ra-chên đã sanh Giô-sép thì Gia-cốp thưa cùng La-ban rằng: Xin cậu cho tôi thôi, đặng trở về quê hương tôi;
26 xin giao vợ và con lại cho tôi, mà tôi đã đặng vì cớ giúp cậu, để tôi đi; bởi cậu cũng biết rằng tôi đã giúp công việc cho cậu thể nào.

Sau khi Giô-sép được sinh ra, Gia-cốp cảm thấy thời gian phục vụ La-ban của mình nên chấm dứt. Ông xin được phép trở về quê hương cùng gia đình. Gia-cốp đã phục vụ La-ban trung thành trong nhiều năm, hoàn tất những thỏa thuận liên quan đến Ra-chên và Lê-a. Mong muốn trở về quê hương không chỉ phản ánh cảm giác rằng nghĩa vụ của mình đã hoàn thành, mà còn cho thấy ông cần thiết lập gia đình riêng và độc lập khỏi sự kiểm soát của La-ban.

Sáng Thế Ký 30:27-28 (VIE1934)
27 La-ban đáp rằng: Ước gì cậu được nhờ ơn cháu! Cậu cũng đoán rõ ràng Đức Giê-hô-va đã vì cháu mà ban phước cho cậu vậy.
28 Lại nói rằng: Cháu hãy định công giá cháu đi, rồi cậu sẽ trả cho!

La-ban nhận ra rằng sự hiện diện của Gia-cốp đã đem đến cho ông sự thịnh vượng lớn lao, nên ông không muốn để Gia-cốp ra đi. Ông thừa nhận rằng Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ông vì Gia-cốp, cho thấy Gia-cốp đang ở dưới phước lành của Đức Chúa Trời. La-ban đề nghị sẽ trả cho Gia-cốp bất cứ mức tiền công nào ông muốn nếu ông đồng ý ở lại, cho thấy La-ban vừa phụ thuộc vào Gia-cốp vừa muốn tiếp tục hưởng lợi từ phước lành của Đức Chúa Trời qua ông. Việc La-ban tìm cách giữ Gia-cốp lại cũng là một nỗ lực khác nhằm duy trì quyền kiểm soát đối với sức lao động của ông.

Sáng Thế Ký 30:29-30 (VIE1934)
29 Gia-cốp đáp: Cậu biết tôi giúp đỡ cậu thể nào, và về tay tôi bầy súc vật cậu được ra sao.
30 Trước khi tôi đến, súc vật của cậu thật ít, nhưng từ khi tôi đến ở, thì thêm nhiều quá bội. Đức Giê-hô-va đã ban phước cho cậu từ khi tôi bước chơn vào nhà nầy; bây giờ biết chừng nào tôi sẽ được lo việc nhà tôi?

Gia-cốp nhắc La-ban về mức độ tài sản của ông đã gia tăng kể từ khi Gia-cốp bắt đầu làm việc cho ông. Trước khi Gia-cốp đến, tài sản của La-ban rất ít, nhưng giờ đây đã tăng lên rất nhiều nhờ phước lành của Đức Chúa Trời. Gia-cốp chỉ ra rằng đã đến lúc ông phải tập trung vào gia đình riêng và xây dựng tài sản cho chính mình, thay vì tiếp tục làm giàu cho La-ban. Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời Gia-cốp, khi ông khẳng định mong muốn trở nên độc lập khỏi người cha vợ đang tìm cách thao túng mình.

Sáng Thế Ký 30:31-33 (VIE1934)
31 La-ban rằng: Cậu sẽ cho cháu cái gì bây giờ? Đáp rằng: Sẽ chẳng cho tôi chi cả. Nếu thuận theo lời nầy, thì tôi sẽ cho ăn và chăn bầy súc vật cậu nữa:
32 Ngày nay tôi sẽ đi kiểm soát các bầy chiên và bầy dê của cậu; trong bầy chiên bầy dê, hễ con nào có rằn, có đốm, cùng chiên sắc đen, thì tôi sẽ để riêng ra; ấy sẽ là phần công giá của tôi đó.
33 Một mai cậu đi xem xét công giá tôi, thì lòng ngay thẳng tôi sẽ làm chứng trước mặt cậu. Hễ ở về phần bên tôi, các con dê nào không có rằn và đốm, các chiên con nào không có sắc đen, thì sẽ cho là ăn cắp.

Gia-cốp đưa ra một kế hoạch khôn khéo về tiền công của mình, chỉ xin những con vật có sọc, có đốm và những con chiên có sắc đen, vốn ít hơn so với những con có màu thuần nhất. Đề nghị này có vẻ rất khiêm nhường, nhưng Gia-cốp biết rằng Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho công việc của ông. Khi đồng ý với các điều kiện này, Gia-cốp đặt lòng tin vào sự chu cấp của Đức Chúa Trời, biết rằng sự ngay thẳng của mình và sự ưu đãi của Đức Chúa Trời sẽ bảo đảm ông được đền công cách công bằng. Sự sắp xếp này cũng giúp Gia-cốp tránh khỏi những cáo buộc bất lương về sau.

Sáng Thế Ký 30:34-36 (VIE1934)
34 La-ban đáp: Ừ thôi! được như lời cháu nói.
35 Chánh ngày đó, La-ban liền để riêng các dê đực có sọc, có đốm, các dê cái đó rằn, có đốm, các vật nào có đém trắng và các chiên con có sắc đen, giao cho mấy con trai mình;
36 rồi để Gia-cốp cùng mình ở cách xa nhau chừng ba ngày đường; Gia-cốp bèn chăn bầy súc vật của La-ban chỉ còn lại.

La-ban đồng ý với đề nghị của Gia-cốp, nhưng ngay lập tức tìm cách hạn chế khả năng thịnh vượng của ông. La-ban tách những con vật có sọc và có đốm ra, giao chúng cho các con trai mình chăm sóc, đồng thời tạo ra khoảng cách địa lý giữa Gia-cốp và những con vật mà ông sẽ chăm sóc. Hành động của La-ban cho thấy sự lừa dối vẫn tiếp diễn và ông muốn kiểm soát sự thịnh vượng của Gia-cốp. Dù vậy, Gia-cốp vẫn trung thành với công việc của mình, tin rằng Đức Chúa Trời vẫn sẽ chu cấp cho ông.

Sáng Thế Ký 30:37-39 (VIE1934)
37 Đoạn, Gia-cốp lấy nhành bạch dương, nhành bồ đào và nhành bá-tiên tươi, lột vỏ để bày lằn da trắng ở trong ra.
38 Người để những nhành đã lột vỏ trong máng trước mặt con chiên, là nơi các thú đó đến uống; khi đến uống nước thì con chiên có giao hiệp nhau.
39 Các con chiên ngó thấy những nhành đó mà giao hiệp nhau thì sanh chiên con có sọc, có rằn và có đốm.

Gia-cốp sử dụng một phương pháp liên quan đến những nhành cây được lột vỏ để khuyến khích các con vật sinh ra những con có sọc, có rằn hoặc có đốm. Phương pháp này có vẻ khác thường và không phù hợp với kiến thức khoa học hiện đại, nhưng ý nghĩa chính trong câu chuyện là Gia-cốp đang sử dụng phương pháp này như một phần trong chiến lược của mình. Tuy nhiên, câu chuyện Kinh Thánh nhấn mạnh rằng sự gia tăng của bầy súc vật cuối cùng là do phước lành của Đức Chúa Trời, chứ không chỉ do nỗ lực hay phương pháp của Gia-cốp.

Sáng Thế Ký 30:40-42 (VIE1934)
40 Gia-cốp để riêng chiên con ra, rồi để chiên cái trong bầy của La-ban trước mặt các con có sọc và có sắc đen; nhưng bầy mình thì riêng ra, không để gần bầy của La-ban.
41 Vả, mọi lần các con chiên mạnh mập giao hiệp, thì Gia-cốp để các nhành đó dưới mắt trong máng uống nước, đặng chúng nó đối nhành mà giao hiệp cùng nhau.
42 Nhưng khi nào con chiên gầy ốm, thì người không để nhành như vậy; thế thì, các chiên con gầy ốm để về phần La-ban, còn chiên con mạnh mập lại về phần Gia-cốp.

Chiến lược của Gia-cốp cũng bao gồm việc chọn lọc những con vật mạnh khỏe để sinh sản cho bầy của mình, trong khi những con yếu hơn vẫn thuộc về bầy của La-ban. Bằng cách này, Gia-cốp khiến bầy của mình ngày càng khỏe mạnh hơn, trong khi bầy của La-ban trở nên yếu hơn. Điều này cho thấy sự khôn ngoan và khả năng của Gia-cốp trong việc xoay chuyển hoàn cảnh có lợi cho mình, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn. Một lần nữa, chủ đề về sự công bằng của Đức Chúa Trời xuất hiện, khi Gia-cốp được ban phước bất chấp những nỗ lực bóc lột của La-ban.

Sáng Thế Ký 30:43 (VIE1934)
43 Vậy, người trở nên rất giàu, có nhiều bầy súc vật, tôi trai, tớ gái, lạc đà và lừa.

Sự thành công của Gia-cốp được xác nhận qua sự giàu có ngày càng tăng của ông. Ông có nhiều bầy súc vật, tôi trai, tớ gái, lạc đà và lừa — những dấu hiệu của sự giàu có đáng kể trong thế giới cổ đại. Câu này kết thúc chương bằng việc khẳng định rằng bất chấp mọi nỗ lực của La-ban nhằm thao túng và kiểm soát ông, Gia-cốp vẫn phát triển thịnh vượng nhờ sự ban phước của Đức Chúa Trời. Sự giàu có và địa vị của ông gia tăng như một kết quả trực tiếp của phước lành Đức Chúa Trời, cho thấy sự ngay thẳng và trung tín với Đức Chúa Trời mang lại sự thành công lâu dài.v

bottom of page