
Sáng Thế Ký 31
Sáng Thế Ký 31 thuật lại sự căng thẳng giữa Gia-cốp và La-ban, lên đến đỉnh điểm khi Gia-cốp quyết định rời Cha-ran cùng gia đình mình. Sau nhiều năm làm việc cho La-ban và bị đối xử bất công, Gia-cốp nghe tiếng gọi của Đức Chúa Trời bảo ông trở về quê hương. Chương này nhấn mạnh những chủ đề về sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, xung đột gia đình và sự bảo vệ của Ngài khi Gia-cốp phải đối diện với sự truy đuổi và đối đầu của La-ban.
Sáng Thế Ký 31:1-3 (VIE1934)
1 Gia-cốp được nghe lời các con La-ban nói rằng: Gia-cốp đã lấy hết gia tài cha ta, và vì nhờ của cha ta, nên mới được giàu có dường ấy.
2 Gia-cốp cũng để ý coi nét mặt cậu, nhận biết rằng người chẳng đối ở với mình như trước nữa.
3 Đức Giê-hô-va phán cùng Gia-cốp rằng: Hãy trở về xứ của tổ phụ ngươi, chốn bà con ngươi, ta sẽ phù hộ ngươi.
Gia-cốp nhận thấy sự oán giận ngày càng tăng từ các con trai của La-ban, những người cho rằng Gia-cốp đã làm giàu bằng cái giá phải trả của cha họ. Thái độ của La-ban đối với Gia-cốp cũng thay đổi, cho thấy sự thù nghịch ngày càng rõ ràng. Giữa tình hình căng thẳng đó, Đức Chúa Trời phán với Gia-cốp, truyền cho ông trở về quê hương. Lời bảo đảm rằng Ngài sẽ ở cùng Gia-cốp đem đến một giải pháp thiêng liêng cho sự thù nghịch ngày càng gia tăng, báo hiệu rằng đã đến lúc Gia-cốp rời khỏi hoàn cảnh khó khăn này và trở về nơi Đức Chúa Trời đã dẫn ông đến. Đây là khởi đầu cho việc Gia-cốp rời khỏi nhà La-ban.
Sáng Thế Ký 31:4-7 (VIE1934)
4 Gia-cốp bèn sai người gọi Ra-chên và Lê-a đến nơi cầm bầy súc vật của mình ngoài đồng,
5 và nói cùng họ rằng: Ta thấy sắc mặt cha hai ngươi đối cùng ta chẳng còn như trước nữa, nhưng nhờ Đức Chúa Trời của cha ta phù hộ ta.
6 Chánh hai ngươi cũng biết rằng ta đã giúp cha hai ngươi hết sức,
7 còn cha hai ngươi lại khinh bạc và mười lần thay đổi công giá ta; nhưng Đức Chúa Trời không cho phép người làm hại ta chút nào.
Gia-cốp gọi vợ mình là Ra-chên và Lê-a ra ngoài đồng, nơi ông chăn bầy súc vật, để nói chuyện riêng với họ, tránh xa nhà cha của họ. Ông giải thích sự thay đổi trong thái độ của La-ban và kể lại rằng mặc dù ông đã trung thành phục vụ La-ban, cha của họ vẫn nhiều lần lừa dối ông và thay đổi tiền công của ông. Tuy nhiên, Gia-cốp nhấn mạnh rằng sự bảo vệ của Đức Chúa Trời đã ở trên ông, ngăn La-ban làm hại ông. Sự nhìn lại này cho thấy Gia-cốp ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò chủ động của Đức Chúa Trời trong đời sống mình, đồng thời giải thích tại sao ông cảm thấy buộc phải rời khỏi nhà La-ban vào lúc này.
Sáng Thế Ký 31:8-10 (VIE1934)
8 Khi người dạy rằng: Các con chiên có đốm dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh con ra có sọc.
9 Thế thì, Đức Chúa Trời đã bắt súc vật của cha hai ngươi cho ta đó!
10 Đương trong lúc chiên giao hiệp nhau, ta nhướng mắt lên, chiêm bao thấy các chiên đực đương giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm.
Gia-cốp kể lại cách La-ban cố gắng thao túng các điều khoản trong thỏa thuận của họ bằng cách liên tục thay đổi tiền công của ông. Mỗi lần La-ban quy định một loại gia súc nhất định làm tiền công cho Gia-cốp, Đức Chúa Trời lại can thiệp để các bầy súc vật sinh sản đúng theo điều Gia-cốp được hứa. Điều này cho thấy sự công bình của Đức Chúa Trời trong việc sửa lại những điều sai trái mà Gia-cốp đã phải chịu. Gia-cốp cũng nhớ lại một giấc chiêm bao, trong đó Đức Chúa Trời cho ông thấy cách các bầy súc vật sẽ gia tăng có lợi cho ông, càng xác nhận rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng đã ban phước cho công việc của Gia-cốp.
Sáng Thế Ký 31:11-13 (VIE1934)
11 Thiên sứ Đức Chúa Trời phán cùng ta trong mộng rằng: Hỡi Gia-cốp! Ta bèn thưa: Có tôi đây.
12 Thiên sứ rằng: Hỡi nhướng mắt lên mà nhìn: hết thảy chiên đực đương giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm; vì ta đã thấy cách La-ban ăn ở cùng ngươi rồi.
13 Ta đây là Đức Chúa Trời của Bê-tên, tức nơi ngươi đã thoa dầu đầu cây trụ và đã khấn vái ta. Bây giờ, hãy đứng dậy, ra khỏi xứ bầy và trở về xứ của bà con ngươi.
Đức Chúa Trời phán với Gia-cốp trong một giấc mộng, nhắc ông rằng Ngài chính là Đức Chúa Trời đã hiện ra với ông trước đây tại Bê-tên, nơi Gia-cốp đã dựng cây trụ và lập lời khấn. Đức Chúa Trời nhìn nhận những khó khăn Gia-cốp phải chịu dưới sự lừa dối của La-ban và bảo đảm với ông rằng Ngài đã thấy tất cả. Việc nhắc đến Bê-tên nối kết thời điểm này với cuộc gặp gỡ trước đây của Gia-cốp với Đức Chúa Trời, xác nhận lại giao ước của Ngài với Gia-cốp. Mệnh lệnh rời Cha-ran và trở về quê hương giờ đây mang trọng lượng của sự hướng dẫn trực tiếp từ Đức Chúa Trời, đem lại cho Gia-cốp cả sự an ủi lẫn một lời kêu gọi rõ ràng phải hành động.
Sáng Thế Ký 31:14-16 (VIE1934)
14 Ra-chên và Lê-a đáp cùng người mà rằng: Chúng tôi còn một phần chi hay là cơ nghiệp chi nơi nhà cha chúng tôi chăng?
15 Vì người đã gả bán chúng tôi và ăn xài hết tiền bạc bán nữa, há người chẳng đãi chúng tôi như người dưng ư?
16 Các tài vật mà Đức Chúa Trời đoạt nơi tay cha chúng tôi tức là của chúng tôi và của con cái chúng tôi. Vậy bây giờ, chàng hãy làm theo mọi lời Đức Chúa Trời đã phải dạy.
Ra-chên và Lê-a đáp lời Gia-cốp bằng cách bày tỏ sự thất vọng của chính họ đối với cha mình. Họ cảm thấy bị La-ban xa lánh và bỏ rơi, cho rằng ông đã đối xử với họ như những người xa lạ và chỉ sử dụng họ như một phương tiện để thu lợi. Theo cách họ nhìn nhận, bằng việc “gả bán” họ và tiêu hết của cải đáng lẽ phải trở thành cơ nghiệp của họ, La-ban đã đánh mất lòng trung thành của họ. Họ thừa nhận rằng những tài vật Gia-cốp có được qua sự can thiệp của Đức Chúa Trời thực sự thuộc về họ và con cái họ. Với nhận thức ấy, họ hoàn toàn ủng hộ Gia-cốp làm theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời để rời đi, cho thấy đây là quyết định chung của cả gia đình.
Sáng Thế Ký 31:17-18 (VIE1934)
17 Gia-cốp bèn đứng dậy, đỡ vợ và con lên lưng lạc đà,
18 dẫn hết thảy súc vật và của cải mình, tức súc vật mình đã gây dựng ở Pha-đan-a-ram, đặng trở về cùng Y-sác, cha mình, ở Ca-na-an.
Gia-cốp lập tức hành động theo quyết định của mình, tập hợp toàn bộ gia đình — vợ, các con trai và tài sản — rồi bắt đầu cuộc hành trình trở về quê hương. Chi tiết ông đưa gia đình lên lưng lạc đà cho thấy cả sự giàu có mà Gia-cốp đã tích lũy lẫn tính chất nghiêm trọng của cuộc hành trình sắp tới. Gia-cốp mang theo tất cả bầy súc vật ông đã gây dựng trong thời gian phục vụ La-ban, tượng trưng cho cách Đức Chúa Trời đã ban phước cho công việc khó nhọc của ông. Mục tiêu của ông rất rõ ràng: trở về với Y-sác, cha mình, tại xứ Ca-na-an, qua đó làm theo mệnh lệnh Đức Chúa Trời đã ban cho ông.
Sáng Thế Ký 31:19-21 (VIE1934)
19 Trong lúc La-ban mắc đi hớt lông chiên người, thì Ra-chên ăn cắp các pho tượng thờ trong nhà của cha mình.
20 Gia-cốp gạt La-ban, vì không nói rằng, mình muốn đi trốn.
21 Vậy, người đứng dậy, đem theo hết thảy tài vật mình, trốn đi ngang qua sông, thẳng tuốt về núi Ga-la-át.
Trong lúc La-ban đang bận hớt lông chiên, Ra-chên lợi dụng cơ hội này để lấy trộm các pho tượng thờ trong nhà cha mình, còn gọi là các tượng tha-rê-phi. Những tượng này có thể có liên quan đến quyền thừa kế hoặc sự bảo vệ, khiến việc Ra-chên lấy chúng trở nên đáng chú ý. Gia-cốp không biết chuyện này, âm thầm rời đi cùng gia đình để tránh đối đầu với La-ban. Họ hướng về núi Ga-la-át, một khoảng cách đáng kể khỏi lãnh thổ của La-ban. Sự bí mật trong cuộc ra đi cho thấy Gia-cốp sợ phản ứng của La-ban cũng như phản ánh tình trạng căng thẳng giữa hai người.
Sáng Thế Ký 31:22-24 (VIE1934)
22 Đến ngày thứ ba, người ta học lại cùng La-ban rằng Gia-cốp đã trốn đi rồi.
23 Người bèn đem các anh em mình đuổi theo Gia-cốp trong bảy ngày đường, và theo kịp tại núi Ga-la-át.
24 Nhưng trong cơn chiêm bao lúc ban đêm, Đức Chúa Trời đến cùng La-ban, người A-ram, mà phán rằng: Dầu lành dầu dữ, thế nào ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.
Ba ngày sau, La-ban biết Gia-cốp đã trốn đi, và ông nhanh chóng tập hợp những người đi cùng mình để đuổi theo. Sau bảy ngày hành trình, La-ban bắt kịp Gia-cốp tại núi Ga-la-át. Tuy nhiên, trước khi đối đầu với Gia-cốp, La-ban nhận được một lời cảnh báo từ Đức Chúa Trời trong giấc chiêm bao. Đức Chúa Trời truyền cho La-ban không được làm hại Gia-cốp hay cố gắng thao túng tình thế, đặt ra giới hạn cho những gì La-ban được phép làm. Sự can thiệp của Đức Chúa Trời bảo vệ Gia-cốp khỏi nguy hiểm và bảo đảm rằng La-ban sẽ không hành động theo hướng gây hại, bất chấp xung đột đang tồn tại.
Sáng Thế Ký 31:25-27 (VIE1934)
25 Vậy, La-ban theo kịp Gia-cốp. Vả, Gia-cốp đương đóng trại trên núi; La-ban và các anh em người cũng đóng trại trên núi Ga-la-át.
26 La-ban nói cùng Gia-cốp rằng: Cháu đã làm chi vậy? Cháu đã gạt cậu và dẫn mấy đứa gái cậu như phu tù giặc.
27 Sao trốn nhẹm, gạt và không cho cậu hay trước? Có lẽ cậu đưa đi rất vui vẻ, tiếng hát, tiếng đờn và tiếng trống phụ đưa.
Khi cuối cùng La-ban bắt kịp Gia-cốp, ông đối chất với ông, cáo buộc Gia-cốp đã âm thầm bỏ đi và đối xử với các con gái của ông như tù binh chiến tranh. Lời của La-ban đầy sự phẫn nộ, vì ông cảm thấy mình bị Gia-cốp làm sai khi không được báo trước về quyết định ra đi. Ông nói rằng nếu Gia-cốp thành thật về ý định của mình, La-ban đã có thể tiễn ông đi trong niềm vui, cùng tiếng hát và âm nhạc. Tuy nhiên, lời tuyên bố này có vẻ không thành thật xét theo thái độ thù nghịch trước đó của La-ban. Nó cho thấy La-ban muốn kiểm soát cách tình huống được nhìn nhận và tự đặt mình vào vị trí của người bị đối xử sai.
Sáng Thế Ký 31:28-30 (VIE1934)
28 Cháu làm cách dại dột vậy, không để cho cậu hôn con trai và con gái cậu.
29 Tay cậu có đủ quyền làm hại cháu; nhưng Đức Chúa Trời của cha cháu đã mách bảo cùng cậu tối hôm qua rằng: Dầu lành dầu dữ, ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.
30 Bây giờ, vì lòng cháu mong mỏi về nhà cha cháu, nên đã ra đi; nhưng cớ sao cháu lại ăn cắp các pho tượng cậu?
La-ban tiếp tục bày tỏ sự tức giận với Gia-cốp, cáo buộc ông hành động dại dột khi không cho La-ban cơ hội từ biệt các con gái và cháu ngoại. Ông cũng khẳng định mình có quyền làm hại Gia-cốp, nhưng ngay lập tức thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã kiềm chế ông qua giấc chiêm bao. Sau đó La-ban chuyển sang vấn đề các pho tượng thờ bị mất, đòi biết tại sao Gia-cốp lại lấy chúng. Lời cáo buộc này đưa thêm một khía cạnh mới vào cuộc xung đột, vì La-ban không chỉ tức giận về việc Gia-cốp bí mật bỏ đi mà còn về việc mất một thứ mà ông coi trọng, có lẽ gắn liền với niềm tin tôn giáo hoặc văn hóa của mình.
Sáng Thế Ký 31:31-32 (VIE1934)
31 Gia-cốp đáp rằng: Vì cớ tôi e cậu bắt hai người con gái lại chăng.
32 Nhưng tìm nơi ai được các pho tượng của cậu, thì ai đó sẽ bị chết đi! Tại trước mặt các anh em chúng ta, cậu hãy kiểm soát các món nơi tôi đi, và hãy lấy vật chi thuộc về cậu. Vả, Gia-cốp vốn không hay rằng Ra-chên đã trộm mấy pho tượng đó.
Gia-cốp giải thích rằng nỗi sợ La-ban có thể cưỡng ép bắt các con gái mình trở lại đã khiến ông bí mật bỏ đi. Ông lo rằng La-ban có thể cưỡng bức lấy Ra-chên và Lê-a khỏi ông, chia cách họ với các con. Tuy nhiên, Gia-cốp không biết rằng Ra-chên đã lấy trộm những pho tượng, nên ông tự tin tuyên bố rằng người nào bị phát hiện có chúng sẽ phải chết. Việc Gia-cốp không biết hành động của Ra-chên tạo nên một tình huống căng thẳng khi La-ban bắt đầu lục soát. Sự việc này cho thấy mong muốn tìm kiếm công lý của Gia-cốp, đồng thời cho thấy mức độ nghiêm trọng của lời cáo buộc mà La-ban đưa ra.
Sáng Thế Ký 31:33-35 (VIE1934)
33 Vậy, La-ban vào trại Gia-cốp, trại Lê-a, trại hai người đòi, chẳng tìm được chi cả. Ðoạn, ở trại Lê-a bước ra đi vào trại Ra-chên.
34 Vả, Ra-chên có lấy mấy pho tượng đó, giấu dưới bành lạc đà, rồi ngồi lên trên. La-ban soát lục khắp trại chẳng gặp pho tượng.
35 Nàng bèn thưa cùng cha rằng: Vì trong mình con có việc riêng của đờn bà, nên đứng dậy rước chẳng được; xin chúa chớ giận con chi hết. Người kiếm, nhưng chẳng thấy pho tượng đâu hết.
La-ban lục soát các trại của Gia-cốp, Lê-a và hai người đầy tớ gái nhưng không tìm thấy gì. Khi ông vào trại của Ra-chên, nàng giấu những pho tượng dưới bành lạc đà rồi ngồi lên trên chúng. Để tránh bị nghi ngờ, Ra-chên nói với cha rằng nàng không thể đứng dậy vì đang trong kỳ kinh nguyệt. Sự lừa dối khôn khéo này khiến La-ban không tìm thấy các pho tượng. Hành động của Ra-chên cho thấy sự mưu trí và khả năng ứng biến của nàng, nhưng đồng thời cũng cho thấy sự gắn bó của nàng với các pho tượng, mặc dù Gia-cốp đang ở trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Sự việc này làm nổi bật những mối quan hệ gia đình phức tạp cũng như những căng thẳng thuộc linh chưa được giải quyết trong gia đình Gia-cốp.
Sáng Thế Ký 31:36-37 (VIE1934)
36 Gia-cốp bèn nổi giận rầy lộn cùng La-ban, mà rằng: Tôi có án gì, tội gì, mà cậu hằm hằm đuổi theo như vậy!
37 Cậu đã soát lục các đồ hành lý tôi, có kiếm được món chi thuộc về nhà cậu chăng? Hãy đem món đó ra trước mặt anh em tôi cùng anh em cậu, đặng họ xét đoán đôi ta.
Sau khi La-ban không tìm được những pho tượng bị lấy trộm, Gia-cốp nổi giận và đối chất với ông. Ông đòi biết mình đã phạm tội hay sai lầm gì mà La-ban phải tức giận truy đuổi như vậy. Gia-cốp chỉ ra rằng dù đã lục soát kỹ lưỡng, La-ban vẫn không tìm thấy bất cứ thứ gì thuộc về ông. Bằng cách mời những người bà con của cả hai làm nhân chứng, Gia-cốp muốn công khai chứng minh mình vô tội trước những lời cáo buộc của La-ban. Đây là một bước ngoặt, khi Gia-cốp, vốn trước đây thường ít đối đầu hơn, giờ đứng lên bảo vệ mình và mạnh dạn thách thức những hành động bất công của La-ban.
Sáng Thế Ký 31:38-40 (VIE1934)
38 Kìa, đã hai mươi năm tôi ăn ở nơi nhà cậu, chiên cùng dê cậu nào có sảo thai, và tôi chẳng hề ăn thịt chiên đực của bầy cậu bao giờ;
39 cũng chẳng hề đem về cho cậu một con nào bị xé; bằng có, chính tôi chịu đền đó thôi. Cậu cớ đòi luôn những con bị ăn cắp ban ngày và ăn trộm ban đêm.
40 Ban ngày tôi chịu nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lùng, ngủ nào có an giấc được đâu.
Gia-cốp nhắc lại hai mươi năm làm việc khó nhọc dưới quyền La-ban, nhấn mạnh sự siêng năng và trung thực của mình. Ông nói rằng mình không bao giờ tự lấy những con vật trong bầy của La-ban để dùng cho bản thân, và ông tự mình chịu những tổn thất khi súc vật bị trộm hoặc bị thú dữ giết. Mô tả của Gia-cốp về những điều kiện khắc nghiệt — chịu cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm — càng nhấn mạnh những hy sinh ông đã thực hiện trong thời gian phục vụ La-ban. Bài trình bày này cho thấy Gia-cốp là một người đầy tớ trung thành, chăm chỉ, nhiều lần bị La-ban đối xử bất công và bóc lột.
Sáng Thế Ký 31:41-42 (VIE1934)
41 Ðó trong hai mươi năm tôi ở tại nhà cậu là thế; trong mười bốn năm giúp việc, để được hai con gái cậu, và sáu năm đặng lãnh lấy bầy súc vật của cậu, mà cậu lại còn thay đổi mười lần công giá tôi.
42 Nếu Ðức Chúa Trời của cha tôi, Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, là Ðấng mà Y-sác kính sợ, không phù hộ tôi, chắc bây giờ cậu đuổi tôi ra tay không, Ðức Chúa Trời đã xem thấy nỗi đau-khổ tôi cùng công việc hai tay tôi làm, nên đêm qua Ngài đã xét công bình rồi đó.
Gia-cốp tiếp tục biện hộ bằng cách nhắc La-ban về hai mươi năm ông đã làm việc — mười bốn năm để cưới hai con gái của La-ban và sáu năm để nhận bầy súc vật. Trong suốt thời gian đó, La-ban liên tục thay đổi tiền công, tìm cách gian lận với ông. Gia-cốp thừa nhận rằng nếu không có sự can thiệp của Đức Chúa Trời, có lẽ La-ban đã đuổi ông đi tay không. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời, Đấng nhìn thấy sự đau khổ và công việc khó nhọc của Gia-cốp, đã quở trách La-ban qua giấc chiêm bao và bảo vệ Gia-cốp khỏi bị đối xử bất công thêm. Lời tuyên bố này cho thấy đức tin của Gia-cốp nơi sự công bình của Đức Chúa Trời và sự nhận biết của ông về vai trò của Đức Chúa Trời trong việc ban phước và gìn giữ mình.
Sáng Thế Ký 31:43-44 (VIE1934)
43 La-ban đáp cùng Gia-cốp mà rằng: Các đứa gái nầy là con của cậu; các đứa trẻ nầy là trẻ của cậu; các bầy súc vật tức là bầy súc vật của cậu, và các vật chi cháu thấy được tức là của cậu hết; ngày nay cậu sẽ làm chi được cùng các con gái hai là các cháu cậu đó?
44 Vậy bây giờ, hè! chúng ta kết-ước cùng nhau, để dùng làm chứng cho cậu và cháu.
La-ban đáp lại bằng cách cố gắng khẳng định quyền sở hữu của mình trên mọi thứ — các con gái, các cháu và bầy súc vật. Tuy nhiên, khi nhận ra rằng mình không thể cưỡng ép giành lại họ mà không gây tổn thương cho chính gia đình mình, La-ban đề nghị một cuộc đình chiến. Ông đề nghị ông và Gia-cốp lập một giao ước để làm chứng cho sự thỏa thuận giữa hai người. Giọng điệu của La-ban ở đây phần nào dịu xuống, vì ông nhận ra cần phải giải quyết những bất đồng cách hòa bình, đặc biệt sau lời cảnh báo của Đức Chúa Trời trong giấc chiêm bao. Giao ước này sẽ bảo đảm rằng hai người có thể chia tay mà không tiếp tục thù nghịch.
Sáng Thế Ký 31:45-47 (VIE1934)
45 Gia-cốp lấy một hòn đá, dựng đứng lên làm trụ;
46 và nói cùng các anh em mình rằng: Hãy lượm góp đá lại. Chúng bèn góp đá lại, chất thành một đống, rồi ngồi lên trên ăn bữa.
47 La-ban đặt trên đống đá đó là Y-ê-ga Sa-ha-du-ta; còn Gia-cốp kêu là Ga-lét.
Gia-cốp chủ động dựng một cây trụ bằng đá làm biểu tượng cho giao ước. Sau đó ông bảo gia đình và những người đi cùng mình nhặt đá, xếp thành một đống. Đống đá này trở thành dấu hiệu hữu hình của sự thỏa thuận giữa họ. Họ cùng ăn một bữa trên đống đá, dùng một hành động thể hiện sự thông công để xác nhận giao ước. La-ban gọi đống đá là “Y-ê-ga Sa-ha-du-ta”, tiếng A-ram có nghĩa là “đống đá làm chứng”, còn Gia-cốp gọi là “Ga-lét”, tiếng Hê-bơ-rơ cũng có nghĩa là “đống đá làm chứng”. Hai tên gọi khác nhau phản ánh nguồn gốc văn hóa của họ, nhưng cả hai đều thừa nhận tầm quan trọng của giao ước.
Sáng Thế Ký 31:48-50 (VIE1934)
48 La-ban nói rằng: Ðống đá nầy ngày nay làm chứng cho cậu và cháu đó. Cho nên chúng gọi là Ga-lét.
49 Mà cũng gọi là Mích-ba, vì La-ban có nói thêm rằng: Khi chúng ta phân cách nhau, cầu xin Ðức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu.
50 Nếu cháu hành hạ các con gái cậu, nếu cưới vợ khác nữa, thì hãy giữ mình! Chẳng phải người thường soi xét ta đâu, bèn là Ðức Chúa Trời làm chứng cho chúng ta vậy.
La-ban nhấn mạnh ý nghĩa tượng trưng của đống đá như một nhân chứng cho thỏa thuận giữa hai người. Ông cũng gọi nơi này là “Mích-ba”, có ý nghĩa liên quan đến việc canh giữ, và kêu cầu sự giám sát của Đức Chúa Trời đối với mối quan hệ của họ. La-ban đặc biệt cảnh báo Gia-cốp không được đối xử tàn tệ với các con gái mình hoặc cưới thêm những người vợ khác, dù không có người nào ở đó để kiểm soát Gia-cốp. Phần này của giao ước trở thành một biện pháp bảo vệ cho Ra-chên và Lê-a, bảo đảm rằng chính Đức Chúa Trời sẽ làm chứng nếu Gia-cốp vi phạm những điều đã thỏa thuận. Điều đó cũng cho thấy La-ban vẫn quan tâm đến các con gái mình bất chấp sự căng thẳng giữa ông và Gia-cốp.
Sáng Thế Ký 31:51-53 (VIE1934)
51 La-ban lại nói cùng Gia-cốp rằng: Nầy đống đá, nầy cây trụ mình cậu đã dựng lên giữa cậu và cháu đây.
52 Ðống đá nầy và cây trụ nầy làm chứng rằng cậu chẳng qua khỏi đây, đi đến nơi cháu, và cháu cũng chẳng vượt khỏi đây, đi đến nơi cậu, trong khi có ý muốn làm hại nhau.
53 Cầu xin Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Na-cô, Ðức Chúa Trời của cha các người đó đoán xét cho chúng ta! Gia-cốp chỉ Ðấng của Y-sác, cha mình, kính sợ mà thề.
La-ban chính thức hóa giao ước bằng cách chỉ vào đống đá và cây trụ như những nhân chứng rằng cả ông lẫn Gia-cốp sẽ không vượt qua ranh giới này với ý định làm hại nhau. Ông kêu cầu Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Na-cô và cha của họ làm quan xét nếu một trong hai người phá vỡ giao ước. Gia-cốp thề bởi “Đấng mà Y-sác, cha mình, kính sợ”, tức là Đức Chúa Trời mà Y-sác tôn kính. Lời thề chung này thiết lập một ranh giới rõ ràng giữa hai người, ngăn chặn xung đột trong tương lai và bảo đảm sự bình an giữa hai gia đình. Giao ước đánh dấu sự chấm dứt của cuộc căng thẳng kéo dài giữa Gia-cốp và La-ban.
Sáng Thế Ký 31:54-55 (VIE1934)
54 Ðoạn, người dâng một của lễ tại trên núi, và mời các anh em mình dùng bánh. Vậy, chúng dùng bánh, rồi ở ban đêm trên núi.
55 La-ban dậy sớm, hôn các con trai và các con gái mình, và chúc phước cho, rồi đi trở về nhà mình.
Gia-cốp dâng một của lễ trên núi, cho thấy tính chất long trọng của giao ước và dâng sự việc ấy cho Đức Chúa Trời. Ông mời gia đình và những người đi cùng mình cùng dùng một bữa ăn, tượng trưng cho sự thông công và hòa giải. Sau khi ở lại trên núi qua đêm, La-ban dậy sớm, hôn các con trai và con gái mình, rồi chúc phước cho họ trước khi trở về nhà. Việc La-ban ra đi đánh dấu sự kết thúc của mối quan hệ căng thẳng giữa hai người, khi mỗi người giờ đây tiếp tục cuộc sống riêng của mình. Sự chia tay trong bình an, được đánh dấu bằng lời chúc phước, khép lại một giai đoạn dài và phức tạp trong mối quan hệ giữa họ.

