
Sáng Thế Ký 33
Sáng Thế Ký 33 kể về việc Gia-cốp chuẩn bị gặp lại anh mình là Ê-sau sau nhiều năm xa cách, vì sợ Ê-sau vẫn còn thù nghịch do những xung đột trong quá khứ. Tuy nhiên, trái với nỗi sợ của Gia-cốp, cuộc gặp gỡ cuối cùng diễn ra trong hòa bình, cho thấy khả năng hòa giải và tha thứ giữa những người thân từng xa cách.
Sáng Thế Ký 33:1-3 (VIE1934)
1 Gia-cốp nhướng mắt lên và nhìn, kìa, Ê-sau dẫn bốn trăm người đi đến. Người bèn chia các con cho Lê-a, Ra-chên, và cho hai tên đòi;
2 sắp hai tên đòi và con cái họ ở trước; kế đến Lê-a và con cái nàng; Ra-chên cùng Giô-sép ở sau chót.
3 Còn người, thì đi trước họ và sấp mình xuống đất bảy lần cho đến khi tới gần anh mình.
Gia-cốp đầy sợ hãi khi nhìn thấy Ê-sau cùng bốn trăm người, nên ông tổ chức gia đình thành từng lớp, đặt những người mình yêu thương nhất ở phía sau cùng để bảo vệ họ tốt hơn. Việc ông sấp mình xuống đất bảy lần cho thấy sự khiêm nhường và thuận phục, với hy vọng làm nguôi lòng Ê-sau và tránh xung đột. Hành động sấp mình nhiều lần cũng cho thấy Gia-cốp thừa nhận những điều sai trái mình đã làm với Ê-sau trong quá khứ và mong muốn tìm kiếm sự hòa bình.
Sáng Thế Ký 33:4 (VIE1934)
4 Nhưng Ê-sau chạy đến trước mặt người, ôm choàng cổ mà hôn, rồi hai anh em đều khóc.
Trái với nỗi sợ của Gia-cốp, Ê-sau đáp lại cách đầy bất ngờ và xúc động. Thay vì tấn công Gia-cốp, Ê-sau chạy đến gặp ông, ôm choàng cổ và hôn ông, rồi cả hai cùng khóc. Cuộc gặp gỡ đầy cảm xúc này cho thấy sự tha thứ và sự chữa lành những vết thương cũ. Dù đã xa cách nhiều năm, Ê-sau không tiếp tục giữ lấy những bất bình trong quá khứ, cho thấy sức mạnh của sự hòa giải.
Sáng Thế Ký 33:5-7 (VIE1934)
5 Đoạn, Ê-sau nhướng mắt lên thấy mấy người đờn bà và con cái, thì hỏi rằng: Các người mà em có đó là ai? Đáp rằng: Ấy là con cái mà Đức Chúa Trời đã cho kẻ tôi tớ anh.
6 Hai tên đòi và con cái họ lại gần người, sấp mình xuống.
7 Lê-a và các con cái nàng cũng lại gần, sấp mình xuống; đoạn, Ra-chên và Giô-sép lại gần, và sấp mình xuống.
Ê-sau được giới thiệu với gia đình của Gia-cốp, và Gia-cốp khiêm nhường nhìn nhận rằng những người con của mình là món quà Đức Chúa Trời đã ban. Việc từng thành viên trong gia đình sấp mình xuống trước Ê-sau cho thấy sự kính trọng đối với ông và nỗ lực tiếp tục của Gia-cốp trong việc thể hiện sự thuận phục cũng như mong muốn hòa bình. Lời Gia-cốp nhấn mạnh rằng ông nương cậy nơi những phước lành của Đức Chúa Trời thay vì khoe khoang về những gì mình đã đạt được.
Sáng Thế Ký 33:8-9 (VIE1934)
8 Ê-sau hỏi: Toán quân anh đã gặp đi trước đó, em tính làm chi? Đáp rằng: Ấy để nhờ được ơn trước mặt chúa tôi.
9 Ê-sau nói: Hỡi em! anh đã được đủ rồi; vậy, hãy lấy lại vật chi của em đi.
Ê-sau hỏi về những món quà mà Gia-cốp đã sai đi trước, vốn được chuẩn bị với hy vọng làm nguôi lòng ông. Gia-cốp giải thích rằng những món quà ấy nhằm tìm kiếm sự chấp nhận của Ê-sau, nhưng Ê-sau nhân hậu từ chối, nói rằng ông đã có đủ. Sự từ chối này cho thấy Ê-sau hài lòng với đời sống và tài sản mình có, đồng thời việc ông không muốn nhận quà càng nhấn mạnh rằng ông không còn cay đắng hay muốn Gia-cốp phải đền bù cho những gì đã xảy ra trong quá khứ.
Sáng Thế Ký 33:10-11 (VIE1934)
10 Thưa rằng: Xin anh, không. Nếu em được ơn trước mặt anh, hãy nhậm lấy lễ vật bởi tay em làm ra đi; vì em thấy được mặt anh khác nào người ta thấy được mặt Đức Chúa Trời, và anh đã đẹp lòng tiếp rước em.
11 Xin anh hãy nhậm lấy lễ vật em đã dâng cho anh, vì Đức Chúa Trời cho em đầy dẫy ân huệ, và em có đủ hết. Người nài xin Ê-sau quá đến đỗi phải chịu nhậm lấy.
Gia-cốp nài nỉ Ê-sau nhận những món quà, so sánh sự tha thứ và tiếp đón của Ê-sau với việc được nhìn thấy mặt Đức Chúa Trời. Sự so sánh này cho thấy Gia-cốp cảm nhận mình đang được phước và bình an, xem sự hòa giải với Ê-sau như một dấu hiệu của ân huệ Đức Chúa Trời. Gia-cốp cũng nhấn mạnh rằng sự giàu có của mình đến từ ân huệ Đức Chúa Trời và ông muốn chia sẻ những phước lành đó với Ê-sau. Sau khi Gia-cốp nài xin nhiều lần, Ê-sau nhận các món quà, tượng trưng cho mối quan hệ giữa hai anh em được phục hồi.
Sáng Thế Ký 33:12-14 (VIE1934)
12 Ê-sau nói: Hè, ta hãy lên đường! Anh sẽ đi trước em.
13 Gia-cốp đáp: Chúa biết rằng các đứa trẻ yếu lắm, và em lại mắc coi chừng chiên và bò cái đương có con bú; nếu ép đi mau chỉ trong một ngày, chắc cả bầy phải chết hết.
14 Xin chúa hãy đi trước kẻ tôi tớ chúa, còn tôi sẽ đi tới chậm chậm theo bước một của súc vật đi trước và của các trẻ, cho đến chừng nào tới nhà chúa tại xứ Sê-i-rơ.
Ê-sau đề nghị họ cùng nhau lên đường, nhưng Gia-cốp khéo léo từ chối, giải thích rằng con cái và bầy súc vật của ông cần di chuyển chậm hơn. Câu trả lời này phản ánh bản tính thận trọng của Gia-cốp, không chỉ vì lợi ích của gia đình và đàn gia súc mà có lẽ còn để duy trì một khoảng cách nhất định với Ê-sau. Mặc dù hai anh em đã hòa giải, Gia-cốp vẫn thận trọng, lựa chọn đi theo tốc độ của mình và duy trì một mức độ độc lập.
Sáng Thế Ký 33:15-17 (VIE1934)
15 Ê-sau nói: Vậy, anh xin để lại cùng em một vài người tùy tùng của anh. Gia-cốp đáp rằng: Chi vậy? miễn em được nhờ ơn trước mặt chúa thôi!
16 Nội ngày đó, Ê-sau bắt đường trở về Sê-i-rơ.
17 Gia-cốp đi đến Su-cốt; bèn cất một nhà cho mình ở, và mấy cái lều cho súc vật; cho nên họ đặt tên chốn nầy là Su-cốt.
Ê-sau đề nghị để lại một số người của mình để giúp Gia-cốp, nhưng Gia-cốp lịch sự từ chối, bày tỏ rằng ông không cần sự trợ giúp thêm. Điều này cho thấy Gia-cốp muốn tự giải quyết công việc của mình dù hai anh em đã hòa giải. Sau khi chia tay, Ê-sau trở về Sê-i-rơ, còn Gia-cốp đi đến Su-cốt, dựng một căn nhà cho mình và làm những cái lều cho súc vật. Tên Su-cốt phản ánh những nơi trú tạm mà Gia-cốp dựng lên cho đàn gia súc của mình.
Sáng Thế Ký 33:18-20 (VIE1934)
18 Gia-cốp ở xứ Pha-ran-a-ram đến thành Si-chem thuộc về xứ Ca-na-an, được bình an. Người đóng tại trước thành,
19 bèn mua miếng đất chỗ người đóng trại, giá một trăm miếng bạc của con Hê-mô, cha Si-chem.
20 Nơi đó người lập một bàn thờ, đặt trên là En-Eân-ô-hê-Y-sơ-ra-ên.
Cuối cùng, Gia-cốp bình an đến Si-chem, trong xứ Ca-na-an, sau cuộc hành trình dài. Ông mua một phần đất và lập một bàn thờ tại đó, đặt tên là “En-Eân-ô-hê-Y-sơ-ra-ên”, nghĩa là “Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên”. Đây là một thời điểm quan trọng khi Gia-cốp nhìn nhận sự bảo vệ và thành tín của Đức Chúa Trời trong suốt hành trình. Bàn thờ thể hiện lòng biết ơn và sự cam kết của Gia-cốp đối với Đức Chúa Trời, Đấng đã ban phước và dẫn dắt ông. Hành động này cũng củng cố sự nhận biết của Gia-cốp về thân phận mới của mình là Y-sơ-ra-ên, tên mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông sau cuộc vật lộn trước đó.

