top of page

Sáng Thế Ký 38

Sáng Thế Ký 38 kể câu chuyện về Giu-đa, một trong mười hai con trai của Gia-cốp, và mối quan hệ của ông với Ta-ma, con dâu mình. Chương này tạm chuyển trọng tâm khỏi câu chuyện về Giô-sép để trình bày một mối quan hệ gia đình quan trọng và phức tạp trong dòng dõi Giu-đa. Những hành động của Ta-ma, dù khác thường, đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì dòng dõi gia đình Giu-đa, dòng dõi sau này dẫn đến vua Đa-vít và cuối cùng là Đấng Mê-si. Chương này nhấn mạnh những chủ đề về công lý, trách nhiệm và sự tể trị của Đức Chúa Trời trong những hoàn cảnh không ngờ tới.

Sáng Thế Ký 38:1-3 (VIE1934)
1 Trong lúc đó, Giu-đa, lìa xa các anh em mình, đến ở cùng một người A-đu-lam, tên là Hi-ra.
2 Tại đó, Giu-đa thấy con gái của một người Ca-na-an, tên là Su-a, bèn cưới làm vợ, và ăn ở cùng nàng.
3 Nàng thọ thai, sanh được một con trai, đặt tên là Ê-rơ.

Giu-đa tách khỏi các anh em mình và chọn sống giữa người Ca-na-an. Sự tách biệt này đánh dấu một sự thay đổi đáng kể trong đời ông, khi ông trở nên thân thiết với Hi-ra, một người A-đu-lam, và cưới một người nữ Ca-na-an, một quyết định đi ngược lại truyền thống gia đình là kết hôn trong vòng dân tộc của mình. Việc Giu-đa cưới con gái của Su-a cho thấy ông đang chịu ảnh hưởng của nền văn hóa chung quanh. Sự ra đời của con trai đầu lòng là Ê-rơ mở đầu cho một chuỗi sự kiện sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai và dòng dõi của Giu-đa.

Sáng Thế Ký 38:4-5 (VIE1934)
4 Nàng thọ thai nữa, sanh được một con trai đặt tên là Ô-nan;
5 lại sanh thêm một con trai, đặt tên là Sê-la. Vả, lúc vợ sanh sản, thì Giu-đa ngụ tại Kê-xíp.

Vợ Giu-đa tiếp tục sinh con, với Ô-nan và Sê-la là hai người con trai tiếp theo. Đoạn này ghi lại rằng Sê-la được sinh tại một nơi gọi là Kê-xíp. Những người con này, đặc biệt là Ô-nan và Sê-la, sẽ đóng những vai trò quan trọng trong những sự kiện tiếp theo. Đoạn này cho thấy gia đình Giu-đa ngày càng phát triển, đồng thời báo trước rằng các con trai ông sẽ liên quan đến những sự kiện gây tranh cãi, đặc biệt về việc thực hiện trách nhiệm đối với gia đình và duy trì dòng dõi.

Sáng Thế Ký 38:6-7 (VIE1934)
6 Giu-đa cưới cho Ê-rơ, con trưởng nam, một người vợ tên là Ta-ma.
7 Nhưng Ê-rơ độc ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, nên Ngài giết người đi.

Giu-đa thu xếp cho Ê-rơ, con trưởng của mình, cưới một người vợ tên là Ta-ma, theo phong tục thời đó nhằm bảo đảm con trai mình có một người vợ thích hợp. Tuy nhiên, Ê-rơ được mô tả là độc ác trước mặt Đức Giê-hô-va, và vì vậy Đức Chúa Trời khiến ông chết. Sự nhắc đến sự gian ác của Ê-rơ rất ngắn gọn, cho thấy Kinh Thánh không phải lúc nào cũng ghi rõ mọi chi tiết về tội lỗi của một cá nhân, nhưng cho biết rằng trong trường hợp này sự phán xét của Đức Chúa Trời rất nghiêm trọng. Cái chết của Ê-rơ mở đường cho chuỗi sự kiện tiếp theo liên quan đến Ta-ma, khi vai trò của nàng trong việc duy trì dòng dõi gia đình trở thành trọng tâm.

Sáng Thế Ký 38:8-10 (VIE1934)
8 Giu-đa bèn biểu Ô-nan rằng: Con hãy lại gần vợ anh con, kết bạn cùng nàng như em chồng, đặng nối dòng dõi cho anh.
9 Ô-nan biết rằng dòng dõi nầy sẽ chẳng thuộc về mình, nên đương khi đến cùng nàng, thì làm rơi rớt xuống đất, để đừng sanh dòng dõi cho anh.
10 Nhưng điều người làm vậy không đẹp lòng Ðức Giê-hô-va, nên Ngài cũng giết người luôn đi.

Sau khi Ê-rơ chết, Giu-đa truyền cho người con trai thứ hai là Ô-nan thực hiện bổn phận của một cuộc hôn nhân nối dòng, một phong tục về sau được luật hóa trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 25:5-10. Theo phong tục này, nếu một người đàn ông chết mà không có người thừa kế, em trai của người chết phải cưới góa phụ và sinh con để duy trì dòng dõi cho người anh đã chết. Người con trai đầu lòng sinh ra từ sự kết hợp này về mặt pháp lý sẽ được xem là người thừa kế của người anh đã chết và nhận quyền của người trưởng nam, đặc biệt là quyền trưởng nam.

Quyền trưởng nam có ý nghĩa rất lớn, bao gồm phần gia tài gấp đôi và trách nhiệm lãnh đạo gia đình. Người trưởng nam cũng có trách nhiệm quản lý tài sản gia đình và những vấn đề thuộc linh. Ngoài ra, người trưởng nam nhận được một sự chúc phước đặc biệt, thường gắn liền với sự ưu đãi của Đức Chúa Trời, trong khi những người con khác nhận phần nhỏ hơn và ít trách nhiệm hơn.

Tuy nhiên, Ô-nan không muốn ban cho anh mình một người thừa kế vì điều đó có nghĩa rằng quyền trưởng nam sẽ không thuộc về mình. Vì vậy, ông cố ý không cho Ta-ma thụ thai, làm tổn hại cả nàng lẫn người anh đã chết. Hành động ích kỷ và không vâng lời này không đẹp lòng Đức Chúa Trời, và Ô-nan cũng bị Ngài giết. Điều này cho thấy tầm quan trọng của trách nhiệm đối với gia đình và sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với những người hành động vì lợi ích riêng thay vì làm trọn trách nhiệm của mình.

Sáng Thế Ký 38:11 (VIE1934)
11 Ðoạn, Giu-đa biểu Ta-ma, dâu mình, rằng: Hãy về ở góa bên nhà cha con, cho đến chừng nào Sê-la, con trai cha, sẽ trở nên khôn lớn. Vì người nói rằng: Chúng ta hãy coi chừng, e khi nó cũng chết như hai anh nó chăng. Ta-ma bèn đi về ở nhà cha mình.

Giu-đa sợ rằng người con trai thứ ba của mình là Sê-la cũng có thể chết nếu cưới Ta-ma, nên bảo nàng trở về nhà cha và chờ cho đến khi Sê-la trưởng thành. Tuy nhiên, ý định của Giu-đa không hoàn toàn chân thành; ông trì hoãn, có lẽ cho rằng Ta-ma bằng cách nào đó mang lại bất hạnh hoặc rằng việc cưới nàng có thể khiến thêm một người con chết. Ta-ma vâng lời Giu-đa và chờ đợi, nhưng câu chuyện cho thấy Giu-đa không thực sự có ý định thực hiện lời hứa của mình. Điều này chuẩn bị cho những hành động sau đó của Ta-ma khi nàng tìm cách đòi lại sự công bằng và vị trí chính đáng của mình trong dòng dõi Giu-đa.

Sáng Thế Ký 38:12-14 (VIE1934)
12 Ngày qua tháng lại, con gái của Su-a, vợ Giu-đa, qua đời. Khi đã nguôi lòng, thì Giu-đa đi cùng bạn là Hi-ra, người A-đu-lam, lên đến nơi mấy thợ hớt lông chiên mình, tại Thim-na.
13 Người ta cho nàng Ta-ma hay điều đó mà rằng: Nầy, ông gia ngươi đi khiến Thim-na đặng hớt lông chiên.
14 Nàng bèn cổi áo góa bụa mình lại, rồi ngồi trước cửa thành Ê-na-im, bên con đường đi về Thim-na; làm vậy là vì nàng đã thấy Sê-la khôn lớn rồi, nhưng họ không gả mình cho chàng làm vợ.

Sau khi vợ Giu-đa qua đời và ông đã nguôi ngoai sau thời gian tang chế, ông trở lại công việc thường ngày, trong đó có việc đi đến Thim-na cùng người bạn Hi-ra để hớt lông chiên, một thời điểm thường gắn với sự vui mừng và hội họp. Ta-ma nhận ra rằng Giu-đa đã không giữ lời hứa gả nàng cho Sê-la, nên quyết định tự mình hành động. Nàng che giấu thân phận bằng cách bỏ áo góa phụ và ngồi tại một nơi mà nàng biết Giu-đa sẽ đi qua. Hành động của Ta-ma cho thấy quyết tâm của nàng trong việc bảo đảm vị trí của mình trong gia đình Giu-đa, không đơn thuần vì lợi ích cá nhân mà vì sự bất công đã xảy ra với nàng. Đây là kế hoạch táo bạo nhằm bảo đảm dòng dõi gia đình tiếp tục.

Sáng Thế Ký 38:15-16 (VIE1934)
15 Giu-đa thấy nàng, cho là một kỵ nữ, vì nàng che mặt,
16 bèn lại gần mà nói rằng: Hãy cho ta đến cùng nàng; vì cớ ngươi không biết nàng là dâu mình. Nàng đáp rằng: Ngươi sẽ cho tôi món chi đặng đi đến cùng tôi?

Giu-đa không nhận ra Ta-ma vì nàng che mặt nên cho rằng nàng là một kỹ nữ. Sự việc này phản ánh những phong tục văn hóa của thời đó, trong đó việc che mặt có thể liên quan đến một số vai trò nhất định. Sự sa ngã về đạo đức của Giu-đa được thể hiện khi ông không ngần ngại đến gần nàng. Câu trả lời của Ta-ma có tính toán: nàng hỏi ông sẽ trao cho nàng điều gì để đổi lấy cuộc gặp gỡ. Động cơ của nàng không đơn giản là lợi ích cá nhân, nhưng liên quan đến việc đòi lại quyền lợi và bảo đảm dòng dõi của người chồng quá cố, điều mà Giu-đa đã không thực hiện.

Sáng Thế Ký 38:17-18 (VIE1934)
17 Ðáp rằng: Ta sẽ gởi cho nàng một con dê con của bầy ta. Nàng hỏi: Người sẽ cho tôi một của chi làm tin, cho đến chừng nào sẽ gởi con dê?
18 Ðáp rằng: Ta sẽ cho nàng của chi làm tin bây giờ? Nàng đáp: Con dấu, dây và cây gậy của người đương cầm nơi tay. Người liền cho, đi lại cùng nàng; nàng thọ thai vì người vậy.

Giu-đa hứa sẽ gửi cho Ta-ma một con dê con làm lễ trao đổi, nhưng Ta-ma yêu cầu một vật làm của tin để giữ lại cho đến khi con dê được gửi đến. Nàng khôn ngoan yêu cầu những vật cá nhân quan trọng: con dấu, dây và cây gậy của Giu-đa. Đây là những vật tượng trưng cho căn tính và quyền hành của ông, tương tự như một chữ ký hoặc dấu hiệu nhận dạng cá nhân ngày nay. Bằng cách giữ những vật này, Ta-ma bảo đảm rằng nàng có bằng chứng về cuộc gặp gỡ. Sau đó, Giu-đa ăn ở với nàng, và nàng thọ thai. Đây là một thời điểm then chốt, vì nó bảo đảm sự tiếp tục của dòng dõi Giu-đa, mặc dù Giu-đa không biết người phụ nữ đó chính là con dâu mình.

Sáng Thế Ký 38:19 (VIE1934)
19 Ðoạn, nàng đứng dậy mà đi, cổi lúp ra và mặc quần áo góa bụa lại.

Sau cuộc gặp gỡ, Ta-ma kín đáo trở về đời sống trước đây, bỏ khăn che mặt và mặc lại quần áo góa phụ. Sự thay đổi này cho thấy nàng có ý định che giấu những gì đã xảy ra và tránh sự dò xét của người khác. Kế hoạch của Ta-ma nhằm thực hiện bổn phận đối với gia đình của người chồng quá cố, và giờ đây khi đã thụ thai, nàng trở lại cuộc sống bình thường với tư cách một người góa phụ. Hành động của nàng không nhằm tìm kiếm sự thỏa mãn cá nhân, nhưng nhằm sửa chữa điều sai trái đã xảy ra khi Giu-đa không giữ lời hứa với nàng.

Sáng Thế Ký 38:20-23 (VIE1934)
20 Giu-đa cậy bạn A-đu-lam mình đem cho con dê con đặng chuộc mấy vật tin nơi tay người đờn bà nầy; nhưng tìm nàng chẳng thấy.
21 Bạn bèn hỏi dân tại nơi nàng ở rằng: Người kỵ nữ khi trước ở ngoài đường nơi cửa thành Ê-na-im đâu rồi? Họ đáp rằng: Ở đây chẳng có một kỵ nữ nào hết.
22 Bạn bèn trở về Giu-đa mà rằng: Tôi kiếm nàng không đặng; và dân nơi đó có nói: ở đây chẳng có một kỵ nữ nào.
23 Giu-đa rằng: Nầy, tôi đã gởi dê con đến, mà bạn chẳng thấy nàng; vậy, để cho nàng giữ lấy của tin đó, chẳng nên gây điều nhơ nhuốc cho chúng ta.

Giu-đa cố gắng hoàn thành phần thỏa thuận của mình, sai Hi-ra đem con dê đến để chuộc lại những vật làm của tin từ người phụ nữ. Tuy nhiên, khi Hi-ra tìm kiếm, ông không thấy nàng, và người dân địa phương khẳng định rằng không có kỹ nữ nào ở đó. Nhận ra mình không thể lấy lại những vật của mình, Giu-đa quyết định không tiếp tục tìm kiếm để tránh thêm sự xấu hổ. Ông sợ rằng nếu sự việc bị phát hiện, danh tiếng của mình sẽ bị tổn hại vì đã giao thiệp với một người mà ông cho là kỹ nữ. Quyết định bỏ qua sự việc cho thấy Giu-đa rất quan tâm đến địa vị xã hội và danh tiếng của mình.

Sáng Thế Ký 38:24 (VIE1934)
24 Cách chừng ba tháng sau, người ta có học lại cùng Giu-đa rằng: Ta-ma, dâu ngươi, đã làm kỵ nữ, và vì nông nổi đó, nàng đã hoang-thai. Giu-đa đáp: Hãy đem nó ra thiêu đi.

Khoảng ba tháng sau, người ta nhận ra rằng Ta-ma đang mang thai. Tin tức về thai kỳ của nàng đến tai Giu-đa, và ông lập tức cho rằng nàng đã bất trung, đã làm nghề mại dâm. Phản ứng của Giu-đa rất nhanh chóng và nghiêm khắc khi ông yêu cầu đem nàng ra thiêu. Hình phạt này phản ánh cách xã hội thời đó xử lý những trường hợp bị xem là vô luân về tình dục. Tuy nhiên, phản ứng của Giu-đa cũng cho thấy sự giả hình của ông, vì chính ông mà không biết đã là người khiến nàng mang thai. Ông vội vàng xét đoán và kết án nàng mà không nhận ra chính mình cũng có phần trách nhiệm trong sự việc.

Sáng Thế Ký 38:25-26 (VIE1934)
25 Ðương khi người ta đem nàng ra, thì nàng sai đến nói cùng ông gia rằng: Xin cha hãy nhìn lại con dấu, dây và gậy nầy là của ai. Tôi thọ thai do nơi người mà có các vật nầy.
26 Giu-đa nhìn biết mấy món đó, bèn nói rằng: Nàng phải hơn ta, vì ta không đưa Sê-la, con trai ta, cho nàng. Ðoạn, người không ăn ở cùng nàng nữa.

Khi Ta-ma sắp bị trừng phạt, nàng đưa ra bằng chứng — con dấu, dây và cây gậy — chứng minh rằng Giu-đa chính là cha của đứa trẻ. Giu-đa lập tức nhận ra những vật của mình và, trong một khoảnh khắc tự nhận thức, thừa nhận điều sai trái của bản thân. Ông công nhận rằng Ta-ma đã hành động công bình hơn mình, vì ông đã không giữ lời hứa trao nàng cho Sê-la. Lời thú nhận của Giu-đa đánh dấu một bước ngoặt trong bản tính của ông, khi ông nhận ra sự thất bại của mình trong việc thực hiện trách nhiệm đối với nàng. Sau đó, ông không còn ăn ở với nàng nữa.

Kinh Thánh không ủng hộ tội lỗi như một phương tiện để nhận được phước lành của Đức Chúa Trời. Mặc dù những hành động của Ta-ma trong Sáng Thế Ký 38 có tính lừa dối và chịu ảnh hưởng bởi những phong tục văn hóa thời đó, Đức Chúa Trời vẫn dùng hoàn cảnh này để tiếp tục chương trình cứu chuộc của Ngài, bày tỏ ân điển và quyền tể trị của Ngài. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời có thể đem điều tốt lành ra từ những hành động tội lỗi, nhưng Ngài không phê chuẩn tội lỗi. Đức tin thật được bày tỏ qua việc tin cậy Đức Chúa Trời và vâng theo ý muốn Ngài, chứ không phải qua những hành động tội lỗi, ngay cả khi hoàn cảnh khó khăn hoặc không rõ ràng.

Sáng Thế Ký 38:27-30 (VIE1934)
27 Ðến kỳ sanh nở, nầy trong bụng nàng có thai đôi.
28 Ðương lúc sanh nở, một trong hai đứa đưa tay ra trước; bà mụ bắt lấy tay buộc một sợi chỉ điều, và nói rằng: Ðứa nầy ra trước.
29 Nhưng nó rút tay vào, thì đây, anh nó lại ra. Bà mụ nói rằng: Mầy, tông rách dường nầy! Họ đặt tên là Phê-rết.
30 Kế em nó ra sau, là đứa nơi tay có sợi chỉ điều, và họ đặt tên là Sê-rách.

Trong đoạn này, Ta-ma sinh đôi, là Phê-rết và Sê-rách. Sê-rách ban đầu đưa tay ra trước và được bà mụ buộc một sợi chỉ điều để đánh dấu, nhưng Phê-rết bất ngờ ra trước. Tên Phê-rết mang ý nghĩa liên quan đến sự “phá ra” hay “tông rách”, phản ánh sự đảo ngược thứ tự sinh này. Điều đó cho thấy Đức Chúa Trời thường hành động vượt ngoài những mong đợi của con người. Việc Phê-rết ra trước có ý nghĩa đặc biệt vì ông trở thành một phần của dòng dõi dẫn đến Đấng Mê-si, là tổ phụ của vua Đa-vít và cuối cùng là Giê-su Christ. Sự kiện này bày tỏ quyền tể trị của Đức Chúa Trời, cho thấy Ngài có thể thực hiện chương trình của mình qua những hoàn cảnh và con người không ngờ tới, ngay cả khi hoàn cảnh có vẻ phức tạp hoặc khác thường.

bottom of page