
Sáng Thế Ký 5
Sáng Thế Ký 5 thường được gọi là gia phả của A-đam, trình bày dòng dõi từ A-đam đến Nô-ê. Chương này nhấn mạnh tuổi thọ rất dài của các tổ phụ thời kỳ đầu và dòng dõi liên tục dẫn đến Nô-ê, người giữ một vai trò quan trọng trong câu chuyện về trận lụt. Chương này cũng củng cố thực tế về hậu quả của sự sa ngã của A-đam, vì mỗi hậu duệ đều được mô tả là sống rồi qua đời, cho thấy sự chết đã trở thành một phần của sự tồn tại con người.
Sáng Thế Ký 5:1-3 (VIE1934)
1 Đây là sách chép dòng dõi của A-đam. Ngày mà Đức Chúa Trời dựng nên loài người, thì Ngài làm nên loài người giống như Đức Chúa Trời;
2 Ngài dựng nên người nam cùng người nữ, ban phước cho họ, và trong ngày đã dựng nên, đặt tên là người.
3 Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình tượng mình, đặt tên là Sết.
Những câu này thiết lập nền tảng của nhân loại, nhắc chúng ta về việc A-đam và Ê-va được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, sau sự sa ngã, các hậu duệ của A-đam giờ đây được sinh ra theo hình tượng của ông, chứ không còn ở trong sự giống hoàn hảo của Đức Chúa Trời. Sết được nhắc đến như nhân vật quan trọng tiếp theo sau sự chết của A-bên và sự sa ngã của Ca-in vào tội lỗi, cho thấy dòng dõi tin kính được tiếp tục qua ông, là dòng dõi qua đó những mục đích của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện. Sự ra đời của Sết đại diện cho hy vọng và một khởi đầu mới cho nhân loại, bất chấp những hậu quả của sự sa ngã.
Sáng Thế Ký 5:4-5 (VIE1934)
4 Sau khi A-đam sanh Sết rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái.
5 Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.
Tuổi thọ rất dài của A-đam nhấn mạnh tuổi thọ đặc biệt của nhân loại trong những thế hệ đầu tiên. Dù sống nhiều năm và có nhiều hậu duệ, câu cuối cùng “rồi qua đời” là một lời nhắc nhở nghiêm trọng về lời nguyền của sự chết do tội lỗi đem vào. Sự chết của A-đam đánh dấu sự ứng nghiệm lời Đức Chúa Trời trong Sáng Thế Ký 2:17, cho thấy thực tế không thể tránh khỏi của sự chết, ngay cả đối với người đầu tiên.
Sáng Thế Ký 5:6-8 (VIE1934)
6 Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót.
7 Sau khi Sết sanh Ê-nót rồi, còn sống được tám trăm bảy năm, sanh con trai con gái.
8 Vậy, Sết hưởng thọ được chín trăm mười hai tuổi, rồi qua đời.
Sết tiếp tục dòng dõi của A-đam và trở thành cha của Ê-nót, đại diện cho thế hệ kế tiếp. Gia phả nhấn mạnh rằng dù mỗi người sống rất lâu, cuối cùng mỗi tổ phụ đều phải đối diện với sự chết. Việc lặp đi lặp lại câu “rồi qua đời” củng cố thực tế liên tục về hậu quả của tội lỗi. Tuy nhiên, các hậu duệ của Sết đại diện cho niềm hy vọng về sự tin kính, vì chính trong thời Ê-nót mà người ta bắt đầu cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va (Sáng Thế Ký 4:26).
Sáng Thế Ký 5:9-11 (VIE1934)
9 Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh Kê-nan.
10 Sau khi Ê-nót sanh Kê-nan rồi, còn sống được tám trăm mười lăm năm, sanh con trai con gái.
11 Vậy, Ê-nót hưởng thọ được chín trăm năm tuổi, rồi qua đời.
Mô hình này tiếp tục với Ê-nót, người sống 905 năm và sinh Kê-nan. Trong khi gia phả vẫn duy trì nhịp điệu của sự sống và sự chết, nó cũng ngầm cho thấy dòng dõi tin kính vẫn tiếp tục và trung tín với Đức Chúa Trời. Dù họ sống trong những khoảng thời gian rất dài, sự chết vẫn tiếp tục thống trị nhân loại, nhắc nhở về ảnh hưởng lâu dài của sự sa ngã.
Sáng Thế Ký 5:12-14 (VIE1934)
12 Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh Ma-ha-la-le.
13 Sau khi Kê-nan sanh Ma-ha-la-le rồi, còn sống được tám trăm bốn mươi năm, sanh con trai con gái.
14 Vậy, Kê-nan hưởng thọ được chín trăm mười tuổi, rồi qua đời.
Kê-nan, giống như các tổ phụ trước mình, sống lâu và sinh Ma-ha-la-le. Bản gia phả tiếp tục lặp lại nhịp điệu của sự sống, việc sinh con và sự chết. Mỗi thế hệ dường như nhấn mạnh rằng mặc dù có lời nguyền của sự chết, nhân loại vẫn tiếp tục gia tăng và đầy dẫy trên đất, làm trọn mệnh lệnh ban đầu của Đức Chúa Trời là hãy sinh sản và làm cho đầy dẫy đất (Sáng Thế Ký 1:28).
Sáng Thế Ký 5:15-17 (VIE1934)
15 Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sanh Giê-rệt.
16 Sau khi Ma-ha-la-le sanh Giê-rệt, còn sống được tám trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
17 Vậy, Ma-ha-la-le hưởng thọ được tám trăm chín mươi lăm tuổi, rồi qua đời.
Cuộc đời của Ma-ha-la-le tiếp tục theo mô hình quen thuộc, và qua ông dòng dõi tiến đến Giê-rệt. Việc nhắc đến các con trai và con gái nhấn mạnh sự tiếp nối của nhân loại, nhưng câu “rồi qua đời” luôn hiện diện, nhắc chúng ta về sự phải chết bắt đầu từ A-đam. Gia phả tiếp tục tiến về phía trước, mỗi thế hệ đưa nhân loại đến gần hơn với sự xuất hiện của Nô-ê.
Sáng Thế Ký 5:18-20 (VIE1934)
18 Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh Hê-nóc.
19 Sau khi Giê-rệt sanh Hê-nóc rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái.
20 Vậy, Giê-rệt hưởng thọ được chín trăm sáu mươi hai năm, rồi qua đời.
Giê-rệt sinh Hê-nóc, một trong những nhân vật đáng chú ý hơn trong gia phả. Cuộc đời của Giê-rệt vẫn theo mô hình đã được thiết lập về tuổi thọ và cuối cùng là sự chết, nhưng việc nhắc đến Hê-nóc báo hiệu một điều khác biệt trong những câu tiếp theo. Cụm từ lặp đi lặp lại “rồi qua đời” trở thành bối cảnh để làm nổi bật sự kiện đặc biệt về Hê-nóc, gợi ý một sự gián đoạn trong chu kỳ của sự chết.
Sáng Thế Ký 5:21-24 (VIE1934)
21 Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la.
22 Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái.
23 Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm sáu mươi lăm tuổi.
24 Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi.
Hê-nóc nổi bật như một trường hợp ngoại lệ trong gia phả này. Không giống những người khác, ông được nói rằng “đồng đi cùng Đức Chúa Trời”, hàm ý một mối quan hệ đặc biệt và gần gũi với Đấng Tạo Hóa. Sự ra đi của ông cũng độc nhất, vì “rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi.” Điều này cho thấy Hê-nóc không trải qua sự chết theo cách thông thường, nhưng được Đức Chúa Trời đem đi, tượng trưng cho lòng trung tín và ân huệ của Đức Chúa Trời.
“Đức Chúa Trời tiếp người đi” được hiểu là Hê-nóc được cất thẳng lên trời hoặc vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà không trải qua sự chết. Cụm từ này cho thấy mối quan hệ của Hê-nóc với Đức Chúa Trời sâu sắc đến mức ông được miễn khỏi tiến trình chết thông thường. Đây là một trong hai trường hợp duy nhất trong Kinh Thánh về một người được đem lên trời mà không chết — trường hợp kia là tiên tri Ê-li, người được đem lên trong một cơn gió lốc (II Các Vua 2:11). Việc Hê-nóc được đem vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời có thể có nghĩa rằng ông được ban cho một đời sống đặc biệt và lâu dài với Đức Chúa Trời, nhưng chưa phải là sự đầy trọn của sự sống đời đời, điều chỉ trở nên khả thi sau công việc của Đấng Christ để đánh bại tội lỗi và sự chết. Kinh nghiệm của Hê-nóc báo trước niềm hy vọng về sự sống đời đời, nhưng chính qua sự chết và sự sống lại của Đấng Christ mà sự sống đời đời thật sự được mở ra cho toàn thể nhân loại.
Sáng Thế Ký 5:25-27 (VIE1934)
25 Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi, sanh Lê-méc.
26 Sau khi Mê-tu-sê-la sanh Lê-méc rồi, còn sống được bảy trăm tám mươi hai năm, sanh con trai con gái.
27 Vậy, Mê-tu-sê-la hưởng thọ được chín trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua đời.
Mê-tu-sê-la, con trai của Hê-nóc, nổi tiếng vì có tuổi thọ dài nhất được ghi lại trong Kinh Thánh — 969 năm. Tuổi thọ phi thường của ông là một bằng chứng về tuổi thọ của nhân loại trước thời đại Nô-ê, khi con người sống lâu hơn rất nhiều so với ngày nay. Tuy nhiên, dù sống lâu đến như vậy, Mê-tu-sê-la cũng phải đối diện với sự chết, giống như tất cả những người khác, làm trọn hậu quả của tội lỗi đã bước vào qua A-đam, được thấy trong Sáng Thế Ký 5 qua câu cuối cùng lặp lại về mỗi tổ phụ: “rồi qua đời.”
Theo truyền thống, người ta hiểu rằng Mê-tu-sê-la qua đời đúng vào năm xảy ra trận lụt, có thể tượng trưng cho sự khép lại của một thời kỳ quan trọng trong lịch sử Kinh Thánh — ngay trước khi Đức Chúa Trời phán xét thế gian qua trận lụt của Nô-ê. Mối liên hệ giữa sự chết của Mê-tu-sê-la và trận lụt có thể cho thấy sự nhẫn nại của Đức Chúa Trời đã kéo dài suốt cuộc đời của Mê-tu-sê-la trước khi Ngài cuối cùng đem sự phán xét đến.
Lê-méc được nhắc đến ở đây thuộc dòng dõi của Sết, không nên nhầm lẫn với Lê-méc thuộc dòng dõi của Ca-in trong Sáng Thế Ký 4. Lê-méc này, là cha của Nô-ê, thuộc dòng dõi công bình sẽ được tiếp tục qua trận lụt. Khác với Lê-méc của dòng dõi Ca-in, là người gắn liền với bạo lực và lòng kiêu ngạo, cha của Nô-ê đại diện cho dòng dõi tin kính qua đó Đức Chúa Trời sẽ bảo tồn nhân loại.
Sáng Thế Ký 5:28-31 (VIE1934)
28 Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai,
29 Đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Đứa nầy sẽ an ủi lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức Giê-hô-va đã rủa sả.
30 Sau khi Lê-méc sanh Nô-ê rồi, còn sống được năm trăm chín mươi lăm năm, sanh con trai con gái.
31 Vậy, Lê-méc hưởng thọ được bảy trăm bảy mươi bảy tuổi, rồi qua đời.
Cuộc đời của Lê-méc giới thiệu Nô-ê, người được mô tả là người sẽ đem lại sự an ủi trong tình trạng đất bị rủa sả. Những lời có tính chất tiên tri của Lê-méc về Nô-ê gợi đến trận lụt sắp xảy ra và sự khởi đầu mới mà Nô-ê sẽ đem đến cho nhân loại. Tuổi thọ 777 năm của Lê-méc cũng mang tính biểu tượng, gợi đến sự trọn vẹn hoặc sự can thiệp của Đức Chúa Trời, càng làm nổi bật vai trò quan trọng của Nô-ê trong diễn tiến của câu chuyện cứu chuộc.
Sáng Thế Ký 5:32 (VIE1934)
32 Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi, sanh Sem, Cham và Gia-phết.
Chương này kết thúc bằng việc nhắc đến ba người con của Nô-ê: Sem, Cham và Gia-phết, những người sẽ đóng những vai trò quan trọng trong các sự kiện tiếp theo, đặc biệt là câu chuyện về trận lụt. Việc nhắc đến họ đánh dấu sự chuyển tiếp từ gia phả của A-đam sang câu chuyện của Nô-ê, mở đường cho trận lụt và sự khởi đầu mới cho nhân loại mà Nô-ê đại diện.

