
Tổng quan: Xuất Ê-díp-tô Ký
Sách Xuất Ê-díp-tô Ký, là sách thứ hai của Kinh Thánh, thuật lại câu chuyện trọng đại về việc Đức Chúa Trời giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ tại Ai Cập, ban luật pháp cho họ tại núi Si-nai và thiết lập mối quan hệ giao ước với Ngài. Sách bắt đầu với hoàn cảnh khốn khổ của dân Y-sơ-ra-ên tại Ai Cập và tiếp tục thuật lại cuộc ra đi đầy kỳ diệu dưới sự lãnh đạo của Môi-se, được Đức Chúa Trời hướng dẫn qua những việc quyền năng của Ngài. Sau đó, câu chuyện chuyển sang việc ban Luật pháp, là khuôn mẫu cho đời sống của một cộng đồng thánh, và việc xây dựng Đền Tạm làm nơi Đức Chúa Trời ngự giữa dân Ngài.
Xuất Ê-díp-tô Ký 1
Dân Y-sơ-ra-ên gia tăng đông đúc tại Ai Cập, khiến người Ai Cập lo sợ. Một Pha-ra-ôn mới, không biết Giô-sép, áp đặt chế độ nô lệ hà khắc trên người Hê-bơ-rơ và ra lệnh giết tất cả bé trai Hê-bơ-rơ mới sinh để kiểm soát dân số của họ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 2
Môi-se được sinh ra và được đặt trong một chiếc giỏ trên sông Nile để tránh sắc lệnh của Pha-ra-ôn. Con gái Pha-ra-ôn tìm thấy ông và nhận ông làm con nuôi. Khi trưởng thành, Môi-se giết một người Ai Cập vì người này đánh một người Hê-bơ-rơ, rồi chạy trốn đến xứ Ma-đi-an, nơi ông cưới Xê-phô-ra và sau đó gặp bụi gai cháy tại núi Hô-rếp.
Xuất Ê-díp-tô Ký 3
Đức Chúa Trời hiện ra với Môi-se trong bụi gai cháy và kêu gọi ông lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập. Đức Chúa Trời bày tỏ danh Ngài, YHWH, và hứa sẽ giải cứu dân Ngài bằng những dấu kỳ lớn lao, rồi đưa họ vào một xứ đượm sữa và mật.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4
Môi-se được ban cho những dấu kỳ lạ để chứng minh quyền năng của Đức Chúa Trời trước dân Y-sơ-ra-ên và Pha-ra-ôn. Dù ông do dự và không giỏi ăn nói, A-rôn được chỉ định làm người phát ngôn cho ông. Môi-se trở về Ai Cập và bắt đầu sứ mạng của mình.
Xuất Ê-díp-tô Ký 5
Môi-se và A-rôn đối diện với Pha-ra-ôn, yêu cầu ông thả dân Y-sơ-ra-ên. Pha-ra-ôn từ chối và còn tăng thêm công việc nặng nhọc cho dân Y-sơ-ra-ên, khiến họ oán trách Môi-se và A-rôn, làm Môi-se nản lòng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 6
Đức Chúa Trời trấn an Môi-se về sự thành tín của Ngài đối với giao ước với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Môi-se được truyền phải một lần nữa đến nói với Pha-ra-ôn về việc thả dân Y-sơ-ra-ên, nhưng Pha-ra-ôn vẫn cứng lòng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 7
Đức Chúa Trời sai Môi-se và A-rôn trở lại trước mặt Pha-ra-ôn để thực hiện những dấu kỳ, trong đó có việc cây gậy của A-rôn biến thành rắn. Tai vạ đầu tiên trong mười tai vạ bắt đầu khi nước sông Nile biến thành máu, nhưng lòng Pha-ra-ôn càng trở nên cứng cỏi.
Xuất Ê-díp-tô Ký 8
Ba tai vạ tiếp theo giáng trên Ai Cập: ếch, muỗi và ruồi. Pha-ra-ôn bắt đầu thương lượng với Môi-se, nhưng mỗi khi tai vạ được cất đi, ông lại cứng lòng và từ chối thả dân Y-sơ-ra-ên.
Xuất Ê-díp-tô Ký 9
Các tai vạ tiếp tục với dịch bệnh làm chết súc vật, ghẻ chốc và mưa đá. Lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi mặc dù sự tàn phá rất nghiêm trọng và ngay cả những quan lại của ông cũng khuyên ông hãy thả dân Y-sơ-ra-ên đi.
Xuất Ê-díp-tô Ký 10
Cào cào và sự tối tăm bao phủ Ai Cập trong những tai vạ tiếp theo. Những cuộc thương lượng của Pha-ra-ôn trở nên tuyệt vọng hơn, nhưng cuối cùng ông vẫn từ chối cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên ra đi, khiến sự đau khổ tiếp tục gia tăng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 11
Môi-se cảnh báo về tai vạ cuối cùng, đó là sự chết của con trưởng trong mỗi nhà Ai Cập. Pha-ra-ôn vẫn không chịu thay đổi, chuẩn bị cho một đêm đầy tai họa.
Xuất Ê-díp-tô Ký 12
Lễ Vượt Qua được thiết lập. Mỗi gia đình Y-sơ-ra-ên phải giết một con chiên và bôi huyết nó lên cửa nhà để tránh sự phán xét sắp đến. Đến nửa đêm, tất cả con trưởng của người Ai Cập đều chết, khiến Pha-ra-ôn cuối cùng phải đuổi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ. Họ ra đi cách vội vàng, và Đức Chúa Trời ban những quy định để ghi nhớ và giữ Lễ Vượt Qua.
Xuất Ê-díp-tô Ký 13
Sự biệt riêng các con trưởng được truyền dạy, nhắc nhở Y-sơ-ra-ên về sự giải cứu của Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu hành trình, được hướng dẫn bởi trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm.
Xuất Ê-díp-tô Ký 14
Khi dân Y-sơ-ra-ên đến Biển Đỏ, Pha-ra-ôn đuổi theo và dồn họ đến bên nước. Đức Chúa Trời cách kỳ diệu rẽ biển ra, cho phép Y-sơ-ra-ên đi qua trên đất khô, rồi khiến nước biển trở lại phủ lên quân đội Ai Cập và nhấn chìm họ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 15
Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca giải cứu, dâng lời ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài đã cứu họ khỏi người Ai Cập. Họ đi vào đồng vắng và gặp nước đắng tại Ma-ra, nhưng Đức Chúa Trời khiến nước trở nên ngọt sau khi Môi-se ném một khúc cây vào đó.
Xuất Ê-díp-tô Ký 16
Dân Y-sơ-ra-ên than phiền vì đói, và Đức Chúa Trời ban ma-na cùng chim cút cho họ. Những chỉ dẫn về việc lượm ma-na và giữ ngày Sa-bát được ban ra, nhấn mạnh sự lệ thuộc của dân sự nơi Đức Chúa Trời về nhu cầu hằng ngày.
Xuất Ê-díp-tô Ký 17
Nước được ban ra cách kỳ diệu từ một vầng đá tại Rê-phi-đim. Người A-ma-léc tấn công Y-sơ-ra-ên, và Giô-suê lãnh đạo trận chiến trong khi Môi-se, được A-rôn và Hu-rơ nâng đỡ, giơ tay lên cho đến khi Y-sơ-ra-ên chiến thắng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 18
Giê-trô, cha vợ Môi-se, đến thăm doanh trại của dân Y-sơ-ra-ên và đưa vợ cùng các con trai của Môi-se đến. Giê-trô khuyên Môi-se bổ nhiệm những người xét xử để giúp cai trị dân sự, thiết lập một cơ cấu lãnh đạo dễ quản lý hơn.
Xuất Ê-díp-tô Ký 19
Y-sơ-ra-ên đến núi Si-nai. Đức Chúa Trời gọi Môi-se lên núi để chuẩn bị dân sự nhận giao ước. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua sấm sét, chớp sáng và đám mây dày đặc, chuẩn bị cho việc ban Luật pháp.
Xuất Ê-díp-tô Ký 20
Đức Chúa Trời công bố Mười Điều Răn, là những luật nền tảng cho mối quan hệ của Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời và với nhau, trực tiếp từ núi Si-nai.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21
Các luật bổ sung về đầy tớ, thương tích cá nhân và quyền sở hữu tài sản được ban ra, trình bày các nguyên tắc về công lý và lòng thương xót trong đời sống hằng ngày của người Hê-bơ-rơ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 22
Các luật liên quan đến việc bảo vệ tài sản, trách nhiệm xã hội và sự công bằng được trình bày, nhấn mạnh nhu cầu sống ngay thẳng trong cộng đồng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 23
Những luật tiếp theo tập trung vào công lý, sự nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát và các lễ hằng năm. Đức Chúa Trời hứa sẽ dẫn dân sự vào Đất Hứa với sự hướng dẫn của thiên sứ và ban chiến thắng trước kẻ thù của họ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 24
Giao ước được xác nhận bằng một của lễ, và dân sự cam kết vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời. Môi-se, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu và bảy mươi trưởng lão dự một bữa ăn giao ước trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời tại Si-nai. Sau đó, Môi-se lên núi để nhận các bảng đá.
Xuất Ê-díp-tô Ký 25
Những chỉ dẫn về việc xây dựng Đền Tạm và các đồ dùng trong đó được ban ra, gồm hòm giao ước, bàn bánh trần thiết và chân đèn bằng vàng, nhấn mạnh mong muốn của Đức Chúa Trời muốn ngự giữa dân Ngài.
Xuất Ê-díp-tô Ký 26
Những chỉ dẫn chi tiết về cấu trúc của Đền Tạm, gồm các bức màn, khung và bức màn ngăn, được ban ra nhằm tạo nên một nơi thánh dành cho sự thờ phượng và sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27
Các chỉ dẫn về bàn thờ của lễ thiêu và hành lang của Đền Tạm được trình bày, cùng với mệnh lệnh chuẩn bị dầu cho chân đèn để ánh sáng luôn cháy trong nơi thánh.
Xuất Ê-díp-tô Ký 28
A-rôn và các con trai ông được chỉ định làm những thầy tế lễ. Áo quần thánh của họ, gồm ê-phót, bảng đeo ngực và khăn đội đầu, được mô tả chi tiết, cho thấy vai trò của họ và tính nghiêm trọng của chức vụ trước mặt Đức Chúa Trời.
Xuất Ê-díp-tô Ký 29
Nghi thức biệt riêng các thầy tế lễ được quy định, gồm các của lễ và nghi lễ tượng trưng cho sự thanh sạch và sự dâng mình phục vụ Đức Chúa Trời.
Xuất Ê-díp-tô Ký 30
Những chỉ dẫn về bàn thờ xông hương, tiền chuộc khi kiểm kê dân số, chậu bằng đồng và dầu xức được ban ra. Mỗi vật đều nhằm phục vụ sự thờ phượng và duy trì sự thánh khiết của Đền Tạm.
Xuất Ê-díp-tô Ký 31
Bết-sa-lê-ên và A-hô-li-áp được gọi đích danh và được đầy dẫy Thần Linh của Đức Chúa Trời để chế tạo các vật dụng của Đền Tạm. Chương này kết thúc bằng sự nhấn mạnh mạnh mẽ về việc giữ ngày Sa-bát như một giao ước đời đời.
Xuất Ê-díp-tô Ký 32
Trong khi Môi-se ở trên núi, dân sự làm một con bò con bằng vàng để thờ phượng, khiến Đức Chúa Trời nổi giận và Môi-se phải cầu thay. Môi-se trở về trại, đập vỡ các bảng đá trong cơn giận và xử lý những kẻ thờ lạy hình tượng, cho thấy hậu quả nghiêm trọng của sự thờ hình tượng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 33
Đức Chúa Trời ban đầu phán rằng Ngài sẽ không đi cùng Y-sơ-ra-ên cách trực tiếp vì tội lỗi của họ, nhưng Môi-se cầu thay. Đức Chúa Trời đồng ý tiếp tục hiện diện giữa họ, và Môi-se gặp Đức Chúa Trời tại Hội-mạc, cho thấy sự giao tiếp và hướng dẫn của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục.
Xuất Ê-díp-tô Ký 34
Môi-se làm lại các bảng đá mới, và Đức Chúa Trời nhắc lại giao ước, công bố danh và các thuộc tính của Ngài. Y-sơ-ra-ên được nhắc nhở về mối quan hệ giao ước đặc biệt với Đức Chúa Trời, Đấng giàu lòng thương xót nhưng cũng công bình.
Xuất Ê-díp-tô Ký 35
Môi-se triệu tập cộng đồng, chỉ dẫn họ về ngày Sa-bát và kêu gọi vật liệu cùng sức lao động để xây dựng Đền Tạm. Dân sự tự nguyện dâng hiến, cho thấy sự cam kết của họ đối với nơi Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa dân Ngài.
Xuất Ê-díp-tô Ký 36
Bết-sa-lê-ên, A-hô-li-áp và những người thợ khéo khác xây dựng Đền Tạm bằng những vật liệu dân sự đã dâng. Công việc được thực hiện cách chính xác theo những gì Đức Chúa Trời đã truyền, phản ánh sự vâng phục và tận tụy của cộng đồng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 37
Các chi tiết về việc chế tạo hòm giao ước, bàn bánh trần thiết và chân đèn bằng vàng được trình bày, cho thấy sự khéo léo được sử dụng để tạo nên những vật thánh này.
Xuất Ê-díp-tô Ký 38
Việc xây dựng bàn thờ của lễ thiêu, chậu bằng đồng và hành lang được mô tả. Một bản tổng kết các vật liệu được sử dụng cho Đền Tạm cũng được đưa ra, ghi lại những vật dân sự đã đóng góp.
Xuất Ê-díp-tô Ký 39
Áo quần của các thầy tế lễ được làm xong, hoàn tất toàn bộ Đền Tạm và các vật dụng trong đó theo mọi điều Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se. Chương này nhấn mạnh sự cẩn thận và chi tiết trong việc thực hiện những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời.
Xuất Ê-díp-tô Ký 40
Đền Tạm cuối cùng được dựng lên và biệt riêng làm thánh. Vinh quang của Đức Chúa Trời đầy dẫy Đền Tạm, biểu thị rằng Ngài đang ngự giữa dân Ngài. Mây và lửa ở trên Đền Tạm hướng dẫn những chuyến đi của dân Y-sơ-ra-ên, cho thấy sự hiện diện và hướng dẫn liên tục của Đức Chúa Trời.

