top of page

Thi Thiên 102

Thi Thiên 102 là lời cầu nguyện đầy cảm xúc của một người đang bị đau khổ, trút nỗi than thở của mình trước mặt Đức Chúa Trời. Người viết bày tỏ sự buồn rầu, cô đơn và tuyệt vọng sâu sắc, cảm thấy đời mình chóng qua và thân thể suy yếu dưới gánh nặng của hoạn nạn. Tuy nhiên, giữa sự đau khổ cá nhân, ông hướng mắt về sự đời đời của Đức Chúa Trời và hy vọng rằng Ngài sẽ thương xót, phục hồi Si-ôn và bày tỏ vinh hiển Ngài cho các thế hệ tương lai. Bài Thi Thiên vì vậy thể hiện sự tương phản giữa sự mong manh của con người và sự bất biến của Đức Chúa Trời, đồng thời khẳng định rằng Ngài nghe lời cầu nguyện của người khốn cùng và không khinh dể tiếng kêu của họ.

Thi Thiên 102:1-10 (VIE1934)
1. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin nghe lời cầu-nguyện tôi,
Nguyện tiếng kêu-cầu tôi thấu đến Chúa!
2. Trong ngày gian-truân tôi, xin Chúa chớ giấu mặt khỏi tôi;
Hãy nghiêng tai qua tôi; trong ngày tôi kêu-cầu,
Xin mau mau đáp lời tôi!
3. Vì các ngày tôi tiêu-tan như khói,
Và xương-cốt tôi bị cháy như lò lửa.
4. Lòng tôi bị đánh và khô như cỏ,
Đến nỗi tôi quên ăn bánh mình.
5. Vì tiếng than-thở tôi,
Xương-cốt tôi dính vào thịt tôi.
6. Tôi giống như con bồ-nông nơi đồng vắng;
Tôi như con cú ở chốn hoang-vu.
7. Tôi thao-thức,
Như chim sẻ cô-độc trên mái nhà.
8. Hằng ngày kẻ thù-nghịch tôi phỉ-báng tôi;
Những kẻ điên-cuồng chống tôi lấy danh tôi mà rủa.
9. Vì tôi ăn tro làm bánh,
Và pha nước uống với nước mắt,
10. Nhân cớ Chúa nổi giận và thạnh-nộ,
Vì Chúa đã nhắc tôi lên rồi lại ném tôi đi.

Người viết bắt đầu bằng lời kêu cầu khẩn thiết xin Đức Chúa Trời nghe tiếng than của mình. Mức độ đau khổ của ông lớn đến nỗi ông cảm thấy những ngày đời mình đang tiêu tan như khói và thân thể mình suy yếu đến mức xương cốt như bị cháy. Ông mất cảm giác thèm ăn, thức trắng và cảm thấy hoàn toàn cô độc, giống như những con chim sống một mình nơi đồng vắng hoặc trên mái nhà. Bên cạnh sự đau khổ bên trong còn có sự phỉ báng liên tục từ những kẻ thù nghịch. Hình ảnh ăn tro làm bánh và pha nước uống với nước mắt diễn tả một trạng thái tang thương và đau buồn sâu sắc. Người viết cảm thấy mình đang bị Đức Chúa Trời bỏ đi dưới sự giận dữ và thạnh nộ của Ngài, cho thấy nỗi đau của ông không chỉ là hoàn cảnh bên ngoài mà còn liên quan đến cảm giác bị xa cách khỏi Đức Chúa Trời.

Thi Thiên 102:11-14 (VIE1934)
11. Các ngày tôi như bóng xế;
Tôi khô-héo như cỏ.
12. Nhưng, hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ còn đến đời đời,
Kỷ-niệm Ngài còn đến đời nọ qua đời kia.
13. Chúa sẽ chỗi-dậy thương-xót Si-ôn;
Vì kỳ làm ơn cho nó, phải, kỳ đã định đến rồi.
14. Vì tôi-tớ Chúa lấy làm vui-thích nơi đá của nó,
Và thương-xót bụi của nó.

Người viết đối chiếu sự ngắn ngủi của đời mình với sự đời đời của Đức Giê-hô-va. Đời ông giống như bóng xế và cỏ khô héo, nhưng Đức Chúa Trời vẫn còn đến đời đời và danh Ngài được nhớ đến qua mọi thế hệ. Chính sự khác biệt này đem lại hy vọng giữa lúc ông đang đau khổ. Ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ chỗi dậy thương xót Si-ôn vào đúng thời kỳ đã định. Ngay cả những viên đá và bụi của Si-ôn cũng quý báu đối với các tôi tớ Đức Chúa Trời, cho thấy lòng yêu mến sâu sắc đối với nơi Đức Chúa Trời đã chọn và niềm mong đợi sự phục hồi của Si-ôn. Hy vọng của người viết vì thế vượt ra ngoài nỗi đau cá nhân và hướng đến sự phục hồi của cả dân sự.

Thi Thiên 102:15-17 (VIE1934)
15. Các nước sẽ kính-sợ danh Đức Giê-hô-va,
Và các vua thế-gian sẽ kính-nể sự vinh-hiển Chúa.
16. Vì Đức Giê-hô-va sẽ dựng lại Si-ôn,
Ngài sẽ hiện ra trong sự vinh-hiển Ngài.
17. Ngài sẽ nghe lời cầu-nguyện của kẻ khốn-cùng,
Và chẳng khinh-bỉ lời cầu-nguyện của họ.

Người viết nhìn về thời điểm Đức Chúa Trời can thiệp để phục hồi Si-ôn, khi sự vinh hiển của Ngài sẽ được bày tỏ đến mức các dân tộc và các vua trên đất phải kính sợ danh Ngài. Đức Giê-hô-va sẽ dựng lại Si-ôn và hiện ra trong sự vinh hiển của Ngài. Điều đặc biệt được nhấn mạnh là Đức Chúa Trời không khinh dể lời cầu nguyện của người khốn cùng. Ngài chú ý đến tiếng kêu của những người bị áp bức và đau khổ. Vì vậy, sự phục hồi Si-ôn không chỉ là một hành động quyền năng mà còn bày tỏ lòng thương xót và sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với những người đang ở trong cảnh khốn cùng.

Thi Thiên 102:18-22 (VIE1934)
18. Điều nầy sẽ được chép lại cho đời sau,
Hầu cho dân-tộc sẽ được dựng nên ngợi-khen Đức Giê-hô-va.
19. Vì Ngài đã từ nơi thánh trên cao nhìn xuống,
Từ trên trời Đức Giê-hô-va đã ngó xuống đất,
20. Đặng nghe tiếng than-thở của kẻ bị tù,
Và mở-thả kẻ bị định phải chết;
21. Hầu cho người ta rao-truyền danh Đức Giê-hô-va tại Si-ôn,
Và sự ngợi-khen Ngài tại Giê-ru-sa-lem,
22. Khi các dân và các nước nhóm lại cùng nhau,
Đặng hầu-việc Đức Giê-hô-va.

Những điều Đức Chúa Trời làm sẽ được ghi lại cho các thế hệ tương lai, để một dân tộc được dựng nên có thể ngợi khen Ngài. Đức Chúa Trời từ nơi thánh trên cao nhìn xuống đất và nghe tiếng than thở của những người bị tù, đồng thời Ngài hành động để giải cứu những người đã bị định phải chết. Sự quan tâm của Ngài đối với người đau khổ bày tỏ cả sự công bình lẫn lòng thương xót của Ngài. Sự phục hồi Si-ôn sẽ trở thành một lời chứng để danh Đức Giê-hô-va được rao truyền tại Giê-ru-sa-lem, và hình ảnh các dân cùng các nước nhóm lại để hầu việc Ngài cho thấy tầm ảnh hưởng rộng lớn của công việc Đức Chúa Trời. Điều Ngài làm không chỉ có ý nghĩa đối với một thế hệ, mà sẽ trở thành lời chứng cho các thế hệ sau.

Thi Thiên 102:23-28 (VIE1934)
23. Ngài làm cho sức-lực tôi yếu-đi trong đường;
Ngài rút ngắn các ngày tôi.
24. Tôi thưa rằng: Hỡi Đức Chúa Trời tôi, xin chớ cất tôi đi giữa số ngày tôi;
Các năm Chúa còn đến đời nọ qua đời kia.
25. Thuở xưa Chúa đặt nền trái đất,
Các từng trời là công-việc của tay Chúa.
26. Các từng trời ấy sẽ hư mất, nhưng Chúa còn hoài;
Chúng nó sẽ cũ như áo-xống;
Chúa sẽ thay chúng nó như áo-choàng, và chúng nó sẽ biến đổi.
27. Song Chúa không hề biến-cải,
Các năm Chúa không hề cùng.
28. Con-cái của tôi-tớ Chúa sẽ còn ở đó,
Và dòng-dõi họ sẽ được lập vững trước mặt Chúa.

Bài Thi Thiên kết thúc bằng việc người viết một lần nữa nhận biết sự yếu đuối và ngắn ngủi của đời mình trong khi nhìn nhận sự đời đời và bất biến của Đức Chúa Trời. Ông cầu xin Đức Chúa Trời đừng cất mình đi giữa những ngày của đời mình, bởi vì ông nhận biết rằng các năm của Đức Chúa Trời vẫn còn đến đời nọ qua đời kia. Ngay cả đất và các từng trời, là công việc của tay Ngài, cũng sẽ thay đổi và qua đi, nhưng chính Đức Chúa Trời vẫn còn hoài và không hề biến cải. Sự tương phản này đem lại nền tảng cho niềm hy vọng của người viết: con người có thể yếu đuối và đời sống có thể ngắn ngủi, nhưng Đức Chúa Trời vẫn đời đời và thành tín. Vì vậy, bài Thi Thiên kết thúc không phải bằng tuyệt vọng mà bằng hy vọng rằng con cái của các tôi tớ Đức Chúa Trời sẽ còn ở đó và dòng dõi họ sẽ được lập vững trước mặt Ngài. Thi Thiên 102 vì thế đưa người đọc từ nỗi đau cá nhân sâu sắc đến niềm tin nơi Đức Chúa Trời đời đời, Đấng nghe tiếng kêu của người khốn cùng, phục hồi dân Ngài và giữ lời Ngài qua mọi thế hệ.

bottom of page