
Thi Thiên 107
Thi Thiên 107 ca ngợi lòng nhân từ bền bỉ và quyền năng giải cứu của Đức Chúa Trời. Bài Thi Thiên trình bày nhiều hoàn cảnh khác nhau trong đó con người rơi vào hoạn nạn: người lang thang trong đồng vắng, người bị xiềng xích trong bóng tối, người đau yếu vì tội lỗi, và những người đi biển gặp bão lớn. Điểm chung trong tất cả những trường hợp này là khi họ kêu cầu Đức Giê-hô-va trong lúc gian truân, Ngài nghe và giải cứu họ. Bài Thi Thiên nhiều lần kêu gọi những người đã kinh nghiệm sự giải cứu của Đức Chúa Trời hãy cảm tạ Ngài, vì sự nhân từ của Ngài còn đến đời đời. Phần cuối mở rộng chủ đề sang quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên đất đai, xã hội và hoàn cảnh của con người, cho thấy Ngài có thể hạ người kiêu ngạo, nâng người nghèo khó và biến những nơi khô hạn thành nơi có sự sống. Người khôn ngoan được kêu gọi suy ngẫm những điều này để hiểu biết lòng nhân từ của Đức Giê-hô-va.
Thi Thiên 107:1-3 (VIE1934)
1. Hãy cảm-tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện;
Sự nhân-từ Ngài còn đến đời đời.
2. Những người được chuộc của Đức Giê-hô-va hãy nói điều đó,
Tức là những kẻ Ngài đã chuộc khỏi tay kẻ thù,
3. Và nhóm họp từ các xứ,
Từ phương đông, phương tây,
Phương bắc và phương nam.
Bài Thi Thiên mở đầu bằng lời kêu gọi cảm tạ Đức Giê-hô-va vì Ngài là thiện và sự nhân từ của Ngài còn đến đời đời. Những người đã được Ngài chuộc khỏi tay kẻ thù được kêu gọi công khai làm chứng về sự giải cứu ấy. Việc họ được nhóm lại từ các phương khác nhau cho thấy Đức Chúa Trời không quên dân Ngài dù họ bị phân tán và ở xa nhau. Ngài có quyền giải cứu, quy tụ và đem những người thuộc về Ngài trở về. Vì vậy, lời cảm tạ không chỉ là một cảm xúc cá nhân mà là lời chứng của những người đã thật sự kinh nghiệm sự chuộc lại của Đức Chúa Trời.
Thi Thiên 107:4-9 (VIE1934)
4. Họ đi lang-thang trong đồng vắng, trong đường vắng-vẻ,
Không tìm được thành để ở.
5. Đói-khát, linh-hồn họ mòn-mỏi trong mình.
6. Bấy giờ trong cơn gian-truân họ kêu-cầu Đức Giê-hô-va,
Ngài bèn giải-cứu họ khỏi điều gian-nan,
7. Dẫn họ đi theo đường ngay-thẳng,
Hầu cho đến một thành có thể ở được.
8. Ôi! Chớ gì người ta ngợi-khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân-từ Ngài,
Và vì các công-việc lạ-lùng Ngài làm cho con loài người!
9. Vì Ngài làm cho linh-hồn khát-khao được no-nê,
Và làm cho linh-hồn đói được đầy những sự tốt-lành.
Phần này mô tả những người bị lạc trong đồng vắng, không có nơi ở, đói khát và kiệt sức. Khi họ không còn biết phải đi đâu, họ kêu cầu Đức Giê-hô-va và Ngài giải cứu họ khỏi sự gian nan, dẫn họ theo đường ngay thẳng đến một nơi có thể cư trú. Đức Chúa Trời không chỉ giải thoát họ khỏi nguy hiểm mà còn đáp ứng nhu cầu của linh hồn họ, làm cho người khát khao được no nê và người đói được đầy những sự tốt lành. Vì vậy, người viết liên tục kêu gọi con người ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự chăm sóc của Ngài đối với những người yếu đuối và thiếu thốn bày tỏ lòng nhân từ của Ngài.
Thi Thiên 107:10-16 (VIE1934)
10. Những kẻ ngồi trong tối-tăm và trong bóng sự chết,
Bị khốn-khổ và bị xiềng-xích,
11. Vì họ đã chống-nghịch lời Đức Chúa Trời,
Và khinh-dể lời khuyên của Đấng Rất Cao.
12. Ngài bèn lấy sự lao-khổ làm cho lòng họ khuất-phục;
Họ vấp-ngã mà không ai tiếp-cứu.
13. Bấy giờ trong cơn gian-truân họ kêu-cầu Đức Giê-hô-va,
Ngài bèn giải-cứu họ khỏi điều gian-nan.
14. Ngài đem họ ra khỏi nơi tối-tăm và bóng sự chết,
Bẻ gãy xiềng-xích họ.
15. Ôi! Chớ gì người ta ngợi-khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân-từ Ngài,
Và vì các công-việc lạ-lùng Ngài làm cho con loài người!
16. Vì Ngài đã bẻ cửa đồng,
Và chặt thanh sắt.
Những câu này nói về những người ở trong tối tăm và bóng sự chết, bị khốn khổ và xiềng xích vì đã chống nghịch lời Đức Chúa Trời và khinh dể lời khuyên của Đấng Rất Cao. Hoạn nạn của họ khiến lòng họ khuất phục và họ không tìm được người nào có thể cứu mình. Tuy nhiên, khi họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài giải cứu họ, đem họ ra khỏi bóng sự chết và bẻ gãy những xiềng xích của họ. Hình ảnh Đức Chúa Trời bẻ cửa đồng và chặt thanh sắt nhấn mạnh rằng không một sự giam cầm nào có thể ngăn cản quyền năng giải cứu của Ngài. Đoạn này cũng cho thấy lòng nhân từ của Đức Chúa Trời ngay cả đối với những người đã đi sai đường và phải chịu hậu quả của sự chống nghịch mình.
Thi Thiên 107:17-22 (VIE1934)
17. Kẻ ngu-dại vì sự vi-phạm mình,
Và vì sự gian-ác mình, nên bị khốn-khổ.
18. Linh-hồn họ gớm-ghê các thứ đồ-ăn,
Và họ đến gần cửa sự chết.
19. Bấy giờ trong cơn gian-truân họ kêu-cầu Đức Giê-hô-va,
Ngài bèn giải-cứu họ khỏi điều gian-nan.
20. Ngài sai lời Ngài chữa họ lành,
Và giải-cứu họ khỏi mồ-mả.
21. Ôi! Chớ gì người ta ngợi-khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân-từ Ngài,
Và vì các công-việc lạ-lùng Ngài làm cho con loài người!
22. Nguyện họ dâng của-lễ cảm-tạ,
Và thuật các công-việc Ngài ra cách vui-mừng.
Những người được mô tả ở đây chịu khốn khổ vì sự vi phạm và gian ác của mình đến mức linh hồn gớm ghê đồ ăn và họ đến gần cửa sự chết. Nhưng một lần nữa, khi họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài giải cứu họ. Ngài “sai lời Ngài chữa họ lành” và giải cứu họ khỏi sự hủy diệt. Điều này cho thấy lời của Đức Chúa Trời có quyền năng đem sự chữa lành và giải cứu. Vì đã kinh nghiệm sự thương xót ấy, họ được kêu gọi không chỉ cảm tạ trong lòng mà còn dâng của lễ cảm tạ và thuật lại các công việc của Đức Chúa Trời cách vui mừng. Sự giải cứu của Đức Chúa Trời trở thành một lời chứng cần được công bố.
Thi Thiên 107:23-32 (VIE1934)
23. Những người đi xuống biển trong tàu,
Và làm việc trên các nước lớn,
24. Thấy các công-việc Đức Giê-hô-va,
Và xem các sự lạ-lùng Ngài trong vực sâu.
25. Ngài truyền, bèn nổi lên gió bão,
Làm cho sóng biển dấy lên.
26. Chúng nó lên đến trời, rồi xuống tới vực sâu;
Linh-hồn chúng nó tiêu-tan vì gian-truân.
27. Chúng nó lảo-đảo và xiêu-ngã như người say,
Và không biết làm gì nữa.
28. Bấy giờ trong cơn gian-truân chúng nó kêu-cầu Đức Giê-hô-va,
Ngài bèn đem chúng nó ra khỏi điều gian-nan.
29. Ngài khiến bão tố yên-lặng,
Sóng biển đều êm.
30. Chúng nó vui-mừng vì sóng đã yên,
Ngài bèn dẫn chúng nó vào bến họ muốn.
31. Ôi! Chớ gì người ta ngợi-khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân-từ Ngài,
Và vì các công-việc lạ-lùng Ngài làm cho con loài người!
32. Nguyện họ tôn Ngài lên trong hội dân-sự,
Và ngợi-khen Ngài trong hội các trưởng-lão.
Hình ảnh chuyển sang những người đi biển và làm việc trên các vùng nước lớn. Họ chứng kiến những công việc và sự lạ lùng của Đức Giê-hô-va, nhưng khi cơn bão nổi lên, họ hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của biển cả. Sóng đưa họ lên cao rồi xuống vực sâu, khiến họ lảo đảo như người say và không còn biết phải làm gì. Khi họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài khiến bão tố yên lặng và sóng biển êm lại, rồi dẫn họ đến bến mà họ mong muốn. Đoạn này bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời trên thiên nhiên và cho thấy Ngài có thể giải cứu con người ngay giữa những hoàn cảnh vượt quá khả năng kiểm soát của họ. Một lần nữa, người được giải cứu được kêu gọi công khai ngợi khen Đức Giê-hô-va giữa hội chúng.
Thi Thiên 107:33-38 (VIE1934)
33. Ngài biến sông thành đồng vắng,
Và suối nước thành đất khô;
34. Đất màu-mỡ thành đất mặn,
Vì cớ sự gian-ác của dân-cư nó.
35. Ngài biến đồng vắng thành hồ nước,
Và đất khô thành suối nước.
36. Ngài làm cho kẻ đói ở tại đó,
Hầu cho họ lập một thành để ở;
37. Gieo ruộng, trồng vườn nho,
Và được mùa hoa-lợi.
38. Ngài cũng ban phước cho họ, khiến họ thêm nhiều;
Và chẳng để cho súc-vật họ giảm đi.
Những câu này mở rộng sự mô tả về quyền tể trị của Đức Chúa Trời từ việc giải cứu cá nhân sang đất đai và hoàn cảnh của cả cộng đồng. Ngài có thể biến sông thành đồng vắng và đất màu mỡ thành đất mặn vì sự gian ác của dân cư, nhưng Ngài cũng có thể biến đồng vắng thành hồ nước và đất khô thành suối nước. Đối với những người đói khát, Ngài ban cho một nơi để cư trú, giúp họ lập thành, gieo ruộng và trồng vườn nho để có hoa lợi. Đức Chúa Trời có quyền làm cho một vùng đất trở nên cằn cỗi hoặc sinh sản, và Ngài có thể ban phước khiến một cộng đồng gia tăng và có đủ cho nhu cầu của mình. Điều này nhấn mạnh rằng sự sống và sự thịnh vượng cuối cùng vẫn nằm dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời.
Thi Thiên 107:39-43 (VIE1934)
39. Khi họ bị giảm-sút và bị hạ xuống,
Bởi sự áp-bức, gian-nan, và buồn-rầu,
40. Ngài đổ sự khinh-bỉ trên các quan-trưởng,
Và khiến họ lang-thang trong nơi vắng-vẻ, không có đường đi.
41. Nhưng Ngài nâng kẻ nghèo-khó lên khỏi sự khốn-nạn,
Và làm cho các nhà họ như bầy chiên.
42. Người công-bình sẽ thấy điều đó và vui-vẻ,
Còn mọi sự gian-ác sẽ ngậm miệng lại.
43. Ai là người khôn-ngoan sẽ giữ lấy các điều ấy,
Và suy-xét sự nhân-từ của Đức Giê-hô-va.
Phần kết cho thấy Đức Chúa Trời có thể hạ những người kiêu ngạo và nâng những người nghèo khó bị áp bức. Những người có quyền thế nhưng dùng quyền lực cách sai trái có thể bị Ngài hạ xuống, trong khi người nghèo khó và bị khốn nạn được Ngài nâng lên khỏi sự gian nan. Người công bình nhìn thấy công việc ấy và vui mừng, còn sự gian ác cuối cùng phải im tiếng trước sự công bình của Đức Chúa Trời. Bài Thi Thiên kết thúc bằng lời kêu gọi người khôn ngoan suy xét tất cả những điều này để hiểu biết sự nhân từ của Đức Giê-hô-va. Qua những người lạc đường, người bị xiềng xích, người đau yếu, người gặp bão tố và những cộng đồng bị hạ xuống hoặc được phục hồi, Thi Thiên 107 cho thấy một chủ đề xuyên suốt: khi con người ở trong hoạn nạn và kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài có thể giải cứu, dẫn dắt, chữa lành và phục hồi; vì vậy, những người đã kinh nghiệm sự nhân từ của Ngài phải nhận biết, ghi nhớ và công bố các công việc lạ lùng của Ngài.

