
Thi Thiên 109
Thi Thiên 109 là một bài Thi Thiên cầu xin sự xét đoán, được quy cho Đa-vít. Bài Thi Thiên bày tỏ nỗi đau sâu sắc của Đa-vít trước những lời vu cáo, sự phản bội và lòng thù ghét bất công của kẻ ác. Ông kêu cầu Đức Chúa Trời không im lặng nhưng can thiệp và thi hành sự công bình. Những lời cầu xin xét đoán trong bài rất mạnh mẽ, thậm chí bao gồm cả gia đình và hậu quả lâu dài đối với kẻ làm ác. Tuy nhiên, trọng tâm của bài không chỉ là sự phẫn nộ mà còn là sự đau khổ, lời cầu xin thương xót và niềm tin rằng Đức Chúa Trời sẽ đứng về phía người nghèo khó, người bị áp bức và người bị vu cáo. Cuối cùng, Đa-vít chuyển từ lời than khóc sang lời ngợi khen, tin rằng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu và bênh vực người bị kết án oan.
Thi Thiên 109:1-10 (VIE1934)
1. Hỡi Đức Chúa Trời của sự ngợi-khen tôi, xin chớ nín-lặng!
2. Vì miệng kẻ ác và miệng kẻ gian-dối đã mở ra nghịch cùng tôi;
Chúng nó nói cùng tôi bằng lưỡi dối-trá.
3. Chúng nó vây-phủ tôi bằng những lời ghen-ghét,
Và chiến-tranh vô cớ cùng tôi.
4. Vì tôi yêu chúng nó, nên chúng nó trở làm kẻ thù nghịch tôi;
Nhưng tôi cứ cầu-nguyện.
5. Chúng nó lấy ác trả thiện,
Lấy sự ghen-ghét trả sự yêu-mến của tôi.
6. Xin Chúa đặt một kẻ ác cai-trị nó,
Và cho Sa-tan đứng bên hữu nó.
7. Khi nó bị xét-đoán, nguyện nó bị định là có tội;
Nguyện lời cầu-nguyện nó hóa ra tội-lỗi.
8. Nguyện các ngày nó bị giảm bớt,
Và nguyện một người khác nhận lấy chức nó.
9. Nguyện con-cái nó mồ-côi,
Và vợ nó góa-bụa.
10. Nguyện con-cái nó cứ đi lang-thang và ăn-mày,
Và phải tìm kiếm bánh mình ở nơi hoang-vắng.
Đa-vít bắt đầu bằng lời kêu cầu Đức Chúa Trời đừng im lặng trước sự gian dối và thù ghét mà ông đang chịu đựng. Điều đau đớn là ông đã đáp lại bằng tình yêu nhưng lại nhận được sự thù nghịch. Trong hoàn cảnh ấy, ông không tự mình trả thù nhưng đem sự việc đến trước Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện. Những lời cầu xin xét đoán trong phần này rất nghiêm khắc, cho thấy mức độ sâu sắc của nỗi đau và cảm giác bị đối xử bất công của Đa-vít. Ông cầu xin kẻ làm ác bị xét đoán, chức vụ của nó bị lấy đi và gia đình nó phải chịu hậu quả. Câu 8 đặc biệt đáng chú ý vì sau này được Phi-e-rơ áp dụng trong Công Vụ 1:20 cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Tuy nhiên, bài Thi Thiên cần được hiểu trong bối cảnh Đa-vít đang đem sự bất công lên trước Quan Xét tối cao, thay vì tự mình thi hành sự báo trả.
Thi Thiên 109:11-20 (VIE1934)
11. Nguyện kẻ cho vay lấy hết tài-sản nó,
Và người ngoài cướp lấy công-lao nó.
12. Nguyện chẳng có ai thương-xót nó,
Cũng chẳng có ai làm ơn cho những kẻ mồ-côi nó.
13. Nguyện dòng-dõi nó bị diệt;
Tên chúng nó bị xóa khỏi đời sau.
14. Nguyện tội ác tổ-phụ nó được nhớ lại trước mặt Đức Giê-hô-va,
Và tội lỗi mẹ nó chớ bị xóa đi!
15. Nguyện các tội ấy hằng ở trước mặt Đức Giê-hô-va,
Hầu cho Ngài diệt kỷ-niệm chúng nó khỏi đất.
16. Vì nó chẳng nhớ làm ơn,
Nhưng đã bắt-bớ người nghèo và kẻ khốn-cùng,
Hầu cho giết kẻ có lòng đau-thương.
17. Nó đã yêu sự rủa-sả, thì sự ấy đến trên nó;
Nó chẳng ưa sự ban-phước, thì sự ấy cách xa nó.
18. Nó mặc sự rủa-sả như áo-xống mình;
Sự ấy thấm vào trong mình nó như nước,
Và vào trong xương nó như dầu.
19. Nguyện sự ấy như áo-xống bao-phủ nó,
Như dây-nịt hằng thắt quanh mình nó.
20. Ấy là phần thưởng của Đức Giê-hô-va cho những kẻ kiện-cáo tôi,
Và cho những kẻ nói xấu linh-hồn tôi.
Đa-vít tiếp tục cầu xin rằng những người không có lòng thương xót đối với người khác sẽ phải đối diện với hậu quả của chính đường lối mình. Lý do ông đưa ra là kẻ thù đã không nhớ làm ơn, nhưng lại bắt bớ người nghèo, người khốn cùng và người có lòng đau thương. Hình ảnh sự rủa sả trở thành áo quần, nước và dầu diễn tả một người đã gắn bó sâu sắc với đường lối gian ác đến mức sự rủa sả trở thành đặc điểm của đời sống mình. Những lời này không nên được hiểu như một lời khuyến khích con người tự mình nguyền rủa hoặc trả thù, nhưng là lời Đa-vít đem sự xét đoán lên trước Đức Chúa Trời và giao quyền báo trả cho Ngài. Toàn bộ phần này nhấn mạnh nguyên tắc rằng Đức Chúa Trời thấy cách con người đối xử với người yếu thế và sẽ xét đoán sự gian ác cách công bình.
Thi Thiên 109:21-29 (VIE1934)
21. Nhưng Chúa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ơi, vì danh Chúa mà hãy làm ơn cho tôi;
Vì lòng nhân-từ Chúa là tốt, xin hãy giải-cứu tôi.
22. Vì tôi là khốn-cùng và thiếu-thốn,
Lòng tôi bị thương trong tôi.
23. Tôi qua đi như bóng khi nó xế;
Tôi bị xua-đuổi như cào-cào.
24. Đầu-gối tôi yếu-mỏn vì kiêng ăn,
Thân-thể tôi gầy-mòn, thiếu mỡ.
25. Tôi cũng đã trở nên sự sỉ-nhục cho chúng nó;
Khi chúng nó thấy tôi, thì lắc đầu.
26. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, xin giúp-đỡ tôi!
Xin hãy cứu tôi tùy theo sự nhân-từ Chúa,
27. Hầu cho chúng nó biết rằng ấy là tay Chúa,
Và Chúa, Đức Giê-hô-va, đã làm điều đó.
28. Chúng nó cứ rủa-sả, nhưng Chúa hãy ban-phước;
Khi chúng nó nổi lên, chúng nó sẽ bị hổ-thẹn,
Còn tôi, kẻ tôi-tớ Chúa, sẽ vui-mừng.
29. Nguyện những kẻ kiện-cáo tôi mặc lấy sự hổ-thẹn,
Và lấy sự nhục-nhã của chúng nó che mình như áo choàng.
Đến đây, Đa-vít chuyển trọng tâm từ những lời cầu xin xét đoán kẻ thù sang việc cầu xin Đức Chúa Trời thương xót và giải cứu chính mình. Ông mô tả mình là người khốn cùng, thiếu thốn và có lòng bị thương, đồng thời cho thấy sự đau khổ đã ảnh hưởng cả đến thể chất khi ông kiêng ăn và trở nên yếu đuối. Những người chống nghịch còn chế nhạo ông và lắc đầu khi nhìn thấy ông. Nhưng giữa hoàn cảnh ấy, Đa-vít không đặt hy vọng vào sức riêng. Ông cầu xin Đức Chúa Trời cứu mình theo lòng nhân từ của Ngài và để qua sự giải cứu ấy, những kẻ chống nghịch nhận biết rằng chính tay Đức Giê-hô-va đã hành động. Đa-vít cũng bày tỏ một sự tương phản rõ ràng: kẻ thù có thể rủa sả, nhưng Đức Chúa Trời có thể ban phước; kẻ thù có thể tìm cách làm ông hổ thẹn, nhưng Đức Chúa Trời có thể đem lại sự vui mừng cho tôi tớ Ngài.
Thi Thiên 109:30-31 (VIE1934)
30. Tôi sẽ hết lòng rất ngợi-khen Đức Giê-hô-va;
Tôi sẽ ngợi-khen Ngài giữa hội đông.
31. Vì Ngài sẽ đứng bên hữu kẻ nghèo,
Để cứu người khỏi những kẻ xét-đoán linh-hồn người.
Thi Thiên kết thúc bằng sự ngợi khen và niềm tin. Sau khi trình bày nỗi đau, sự vu cáo và những lời cầu xin xét đoán, Đa-vít tuyên bố rằng ông sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va giữa hội đông. Lý do là Đức Chúa Trời đứng bên hữu người nghèo để cứu họ khỏi những kẻ xét đoán và kết án họ. Hình ảnh Đức Chúa Trời đứng bên hữu người nghèo cho thấy Ngài là Đấng bênh vực người yếu thế và không bỏ mặc người bị áp bức. Vì vậy, Thi Thiên 109 đi từ sự đau đớn và bị phản bội đến lời cầu xin Đức Chúa Trời xét đoán, rồi cuối cùng đến sự tin cậy và ngợi khen. Đa-vít tin rằng dù hiện tại sự gian ác có thể dường như thắng thế, Đức Chúa Trời vẫn nhìn thấy sự bất công, Ngài có quyền xét đoán và sẽ bênh vực những người kêu cầu Ngài.

