
Thi Thiên 116
Thi Thiên 116 là một bài Thi Thiên tạ ơn cá nhân, bày tỏ tình yêu và lòng biết ơn của tác giả đối với Đức Giê-hô-va vì Ngài đã nghe lời cầu nguyện và giải cứu ông khỏi hoạn nạn, nước mắt và sự chết. Tác giả nhìn lại lúc mình ở trong tình trạng đau khổ cùng cực, khi những sự đau đớn của sự chết bao vây, nhưng ông đã kêu cầu danh Đức Giê-hô-va và được Ngài cứu. Vì kinh nghiệm sự nhân từ, công bình và thương xót của Đức Chúa Trời, ông quyết định tiếp tục kêu cầu Ngài suốt đời, bước đi trước mặt Ngài và thực hiện những lời hứa mình đã nguyện. Bài Thi Thiên cũng cho thấy lòng biết ơn không chỉ được giữ trong lòng nhưng được bày tỏ công khai qua sự thờ phượng và dâng của lễ tạ ơn giữa dân sự Đức Chúa Trời.
Thi Thiên 116:1-10 (VIE1934)
1. Tôi yêu-mến Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe tiếng tôi,
Và lời tôi cầu-khẩn.
2. Ngài đã nghiêng tai qua tôi;
Vì vậy, trọn đời tôi sẽ kêu-cầu Ngài.
3. Những dây sự chết vương-vấn tôi,
Sự đau-đớn Âm-phủ bắt lấy tôi;
Tôi gặp gian-truân và buồn-rầu.
4. Bấy giờ tôi kêu-cầu danh Đức Giê-hô-va rằng:
Hỡi Đức Giê-hô-va, xin Ngài giải-cứu linh-hồn tôi!
5. Đức Giê-hô-va hay làm ơn, là công-bình;
Đức Chúa Trời chúng ta có lòng thương-xót.
6. Đức Giê-hô-va gìn-giữ người thật-thà;
Tôi bị khốn-khổ, Ngài đã cứu tôi.
7. Hỡi linh-hồn ta, hãy trở lại sự an-nghỉ ngươi;
Vì Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho ngươi.
8. Vì Chúa đã cứu linh-hồn tôi khỏi sự chết,
Mắt tôi khỏi giọt lệ,
Chân tôi khỏi vấp-ngã.
9. Tôi sẽ đi trước mặt Đức Giê-hô-va
Trong đất của người sống.
10. Tôi đã tin, nên tôi nói;
Tôi đã bị khốn-khổ quá.
Tác giả bày tỏ tình yêu đối với Đức Giê-hô-va vì Ngài đã nghe tiếng ông và nghiêng tai về lời cầu khẩn của ông. Khi sự chết và Âm-phủ dường như đã bao vây, ông không quay sang nơi khác nhưng kêu cầu danh Đức Giê-hô-va xin Ngài giải cứu linh hồn mình. Đức Chúa Trời được mô tả là Đấng hay làm ơn, công bình và đầy lòng thương xót, đồng thời gìn giữ người thật thà. Sau khi được giải cứu, tác giả tự nhắc linh hồn mình trở lại sự an nghỉ vì Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho mình. Ngài đã cứu ông khỏi sự chết, khỏi nước mắt và khỏi vấp ngã, nên ông quyết tâm tiếp tục bước đi trước mặt Ngài trong đất của người sống. Dù đã trải qua sự khốn khổ sâu sắc, đức tin của ông vẫn khiến ông nói ra điều mình đã tin và làm chứng về sự giải cứu của Đức Chúa Trời.
Thi Thiên 116:11-19 (VIE1934)
11. Tôi nói trong sự vội-vàng rằng:
Mọi người đều là kẻ nói dối.
12. Tôi sẽ lấy gì báo-đáp Đức Giê-hô-va
Về các ơn Ngài đã làm cho tôi?
13. Tôi sẽ cầm chén cứu-rỗi,
Và cầu-khẩn danh Đức Giê-hô-va.
14. Tôi sẽ trả các sự hứa-nguyện tôi cho Đức Giê-hô-va,
Trước mặt cả dân-sự Ngài.
15. Sự chết của các người thánh
Là quí-báu trước mặt Đức Giê-hô-va.
16. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi quả thật là tôi-tớ Ngài;
Tôi là tôi-tớ Ngài, con trai của tôi-tớ gái Ngài;
Ngài đã mở-xiềng-xích tôi.
17. Tôi sẽ dâng cho Chúa của-lễ tạ-ơn,
Và cầu-khẩn danh Đức Giê-hô-va.
18. Tôi sẽ trả các sự hứa-nguyện tôi cho Đức Giê-hô-va,
Trước mặt cả dân-sự Ngài,
19. Tại hành-lang nhà Đức Giê-hô-va,
Ở giữa ngươi, hỡi Giê-ru-sa-lem.
Ha-lê-lu-gia!
Sau khi được giải cứu, tác giả nhìn lại lời mình đã nói trong lúc tuyệt vọng: “Mọi người đều là kẻ nói dối.” Điều này phản ánh sự vội vàng và thất vọng của ông trong thời điểm khốn cùng, khi ông nhận ra sự giới hạn và không đáng tin cậy của con người. Nhưng thay vì tiếp tục tập trung vào con người, ông chuyển sự chú ý sang Đức Chúa Trời và tự hỏi mình có thể báo đáp Ngài điều gì về mọi ơn Ngài đã ban. Ông quyết định “cầm chén cứu-rỗi” và cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va, đồng thời thực hiện những lời hứa nguyện mà mình đã lập trước mặt Ngài. Câu “sự chết của các người thánh là quí-báu trước mặt Đức Giê-hô-va” cho thấy Đức Chúa Trời coi trọng mạng sống của những người thuộc về Ngài và không xem sự chết của họ là điều vô nghĩa hay không đáng kể. Tác giả nhận mình là tôi tớ Đức Giê-hô-va và cảm tạ Ngài vì đã mở xiềng xích mình. Lòng biết ơn của ông được thể hiện công khai qua của lễ tạ ơn, sự cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va và việc giữ lời hứa nguyện giữa hội chúng tại nhà Đức Giê-hô-va. Bài Thi Thiên kết thúc bằng “Ha-lê-lu-gia!”, cho thấy kinh nghiệm được giải cứu đã dẫn tác giả đến sự thờ phượng và ngợi khen Đức Chúa Trời giữa toàn thể dân sự.

