top of page

Thi Thiên 119

Thi Thiên 119 là chương dài nhất trong Kinh Thánh, gồm 176 câu, được chia thành 22 phần, tương ứng với 22 chữ cái trong bảng chữ cái Hê-bơ-rơ. Mỗi phần gồm 8 câu, và trong nguyên bản mỗi câu của một phần bắt đầu bằng cùng một chữ cái Hê-bơ-rơ. Bài Thi Thiên nhấn mạnh vẻ đẹp và giá trị của luật pháp Đức Chúa Trời, sử dụng nhiều từ ngữ như luật-pháp, chứng-cớ, giềng-mối, điều-răn và luật-lệ để nói về Lời Ngài. Tác giả bày tỏ lòng yêu mến sâu sắc đối với Lời Đức Chúa Trời và nương cậy nơi Lời Ngài để được hướng dẫn, an ủi và thêm sức trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.

Thi Thiên 119:1-10 (VIE1934)
1. Phước cho những người trọn-vẹn trong đường-lối mình,
Đi theo luật-pháp của Đức Giê-hô-va.
2. Phước cho những người gìn-giữ chứng-cớ Ngài,
Và hết lòng tìm-cầu Ngài.
3. Họ không làm trái phép công-bình,
Nhưng đi trong các lối Ngài.
4. Chúa đã truyền cho chúng tôi các giềng-mối Chúa,
Hầu cho chúng tôi cẩn-thận giữ lấy.
5. Ồ! chớ chi đường-lối tôi được vững-chắc,
Để tôi giữ các luật-lệ Chúa!
6. Khi tôi chăm-chỉ về các điều-răn Chúa,
Thì chẳng bị hổ-thẹn.
7. Khi tôi học các đoán-ngữ công-bình của Chúa,
Thì tôi sẽ lấy lòng ngay-thẳng mà ngợi-khen Chúa.
8. Tôi sẽ giữ các luật-lệ Chúa;
Xin chớ bỏ tôi trọn.
9. Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường-lối mình được trong-sạch?
Phải cẩn-thận theo lời Chúa.
10. Tôi hết lòng tìm-cầu Chúa,
Chớ để tôi lạc các điều-răn Chúa.

Tác giả mở đầu bằng việc mô tả phước hạnh của một đời sống vâng phục luật pháp Đức Chúa Trời. Một đời sống trong sạch được thể hiện qua việc hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời và tránh tội lỗi bằng cách bước đi trong đường lối Ngài. Tác giả nhận biết rằng các điều-răn của Đức Chúa Trời cần được gìn giữ cẩn thận và bày tỏ ước muốn đời sống mình được hướng theo luật-lệ Ngài để không bị hổ thẹn. Khi học biết đường lối công-bình của Đức Chúa Trời, ông cam kết ngợi khen Ngài với lòng ngay thẳng. Ông cũng cầu xin sự hiện diện của Đức Chúa Trời và nhấn mạnh rằng việc cẩn thận theo Lời Ngài là điều đặc biệt quan trọng đối với người trẻ.

Thi Thiên 119:11-20 (VIE1934)
11. Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi,
Để tôi không phạm tội cùng Chúa.
12. Hỡi Đức Giê-hô-va, đáng ngợi-khen Ngài;
Xin dạy tôi các luật-lệ Ngài.
13. Tôi lấy môi thuật lại
Các mạng-lịnh miệng Chúa phán ra.
14. Tôi vui-mừng về đường chứng-cớ Chúa,
Như thể vui-mừng về của-cải hiếm-hiệm.
15. Tôi sẽ suy-gẫm về giềng-mối Chúa,
Chăm-xem đường-lối của Chúa.
16. Tôi ưa-thích luật-lệ Chúa,
Sẽ chẳng quên lời của Chúa.
17. Xin Chúa ban ơn lành cho tôi-tớ Chúa, để tôi được sống;
Thì tôi sẽ giữ lời của Chúa.
18. Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy
Sự lạ-lùng trong luật-pháp của Chúa.
19. Tôi là người khách lạ trên đất,
Xin chớ giấu tôi các điều-răn Chúa.
20. Linh-hồn tôi hao-mòn vì mong-ước
Các mạng-lịnh Chúa luôn luôn.

Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ghi nhớ và cất giữ Lời Đức Chúa Trời trong lòng để tránh phạm tội. Ông cầu xin sự hiểu biết và vui mừng trong chân lý của luật pháp Đức Chúa Trời, xem những điều ấy quý giá hơn của cải vật chất. Tình yêu đối với Lời Chúa khiến ông liên tục suy-gẫm về các giềng-mối Ngài và cầu xin Đức Chúa Trời mở mắt để ông nhìn thấy những điều lạ-lùng trong luật-pháp. Nhận biết mình chỉ là người khách lạ trên đất, ông không muốn sống thiếu sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời và bày tỏ lòng khao khát sâu xa đối với sự khôn ngoan và mạng-lịnh của Ngài.

Thi Thiên 119:21-30 (VIE1934)
21. Chúa quở-trách kẻ kiêu-ngạo,
Là kẻ đáng rủa-sả, hay lầm-lạc các điều-răn Chúa.
22. Xin lăn khỏi tôi sự sỉ-nhục và sự khinh-dể;
Vì tôi gìn-giữ các chứng-cớ của Chúa.
23. Vua-chúa cũng ngồi nghị-luận nghịch tôi;
Song tôi-tớ Chúa suy-gẫm luật-lệ Chúa.
24. Các chứng-cớ Chúa là sự hỉ-lạc tôi,
Tức là những mưu-sĩ tôi.
25. Linh-hồn tôi dính vào bụi-đất,
Xin hãy khiến tôi sống lại tùy theo lời Chúa.
26. Tôi đã tỏ với Chúa đường-lối tôi, Chúa bèn đáp lời tôi;
Xin hãy dạy tôi các luật-lệ Chúa.
27. Cầu Chúa làm cho tôi hiểu-biết con đường giềng-mối Chúa,
Thì tôi sẽ suy-gẫm các công-việc lạ-lùng của Chúa.
28. Linh-hồn tôi, vì ưu-sầu, chảy tuôn giọt-lệ;
Xin hãy làm cho tôi vững-bền tùy theo lời Chúa.
29. Xin hãy dang xa tôi con đường dối-trá,
Làm ơn cho tôi biết luật-pháp Chúa.
30. Tôi đã chọn con đường thành-tín,
Đặt mạng-lịnh Chúa trước mặt tôi.

Tác giả đối chiếu những kẻ kiêu-ngạo từ chối Lời Đức Chúa Trời với những người trung tín giữ Lời Ngài ngay cả khi gặp sự chống đối. Ông tìm thấy niềm vui và sự hướng dẫn trong luật pháp Đức Chúa Trời. Khi linh-hồn bị đè nặng bởi ưu-sầu, ông cầu xin được sống lại và thêm sức theo Lời Chúa. Ông mong muốn hiểu sâu hơn về các giềng-mối của Đức Chúa Trời vì biết rằng việc suy-gẫm Lời Ngài sẽ giúp ông nhận biết những công việc lạ-lùng của Ngài. Đồng thời, ông xin được tránh xa con đường dối-trá và quyết định chọn con đường thành-tín, luôn đặt mạng-lịnh Đức Chúa Trời trước mặt mình.

Thi Thiên 119:31-40 (VIE1934)
31. Tôi tríu-mến các chứng-cớ Chúa:
Đức Giê-hô-va ôi! xin chớ cho tôi bị hổ-thẹn.
32. Khi Chúa mở rộng lòng tôi,
Thì tôi sẽ chạy theo con đường điều-răn Chúa.
33. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chỉ-dạy tôi con đường luật-lệ Chúa,
Thì tôi sẽ giữ lấy cho đến cuối-cùng.
34. Xin hãy ban cho tôi sự thông-sáng, thì tôi sẽ vâng theo luật-pháp Chúa,
Ắt sẽ hết lòng gìn-giữ lấy.
35. Xin hãy khiến tôi đi trong đường điều-răn Chúa,
Vì tôi lấy làm vui-vẻ tại đó.
36. Xin hãy khiến lòng tôi hướng về chứng-cớ Chúa,
Chớ đừng hướng về sự tham-lam.
37. Xin xây mắt tôi khỏi xem những vật hư-không,
Làm tôi được sống trong các đường-lối Chúa.
38. Xin Chúa làm ứng-nghiệm lời Chúa cho kẻ tôi-tớ Chúa,
Tức là kẻ kính-sợ Chúa.
39. Xin hãy cất khỏi tôi sự sỉ-nhục mà tôi sợ-sệt;
Vì mạng-lịnh Chúa là tốt-lành.
40. Kìa, tôi mong-ước các giềng-mối Chúa;
Xin hãy khiến tôi được sống trong sự công-bình Chúa.

Tác giả bày tỏ quyết tâm nắm giữ các chứng-cớ của Đức Chúa Trời và cầu xin Ngài giúp ông không bị hổ thẹn. Ông xin được ban sự thông-sáng để có thể bước đi vui-vẻ trong các điều-răn và giữ luật pháp với cả tấm lòng. Nhận biết sự yếu đuối của mình, ông cầu xin Đức Chúa Trời hướng lòng mình khỏi sự tham-lam và hướng mắt mình khỏi những điều hư-không. Ông khao khát Lời Chúa được ứng-nghiệm trong đời sống mình và mong muốn được sống trong sự công-bình của Đức Chúa Trời.

Thi Thiên 119:41-50 (VIE1934)
41. Hỡi Đức Giê-hô-va, nguyện sự nhơn-từ Ngài đến cùng tôi,
Tức là sự cứu-rỗi của Ngài tùy lời phán Ngài!
42. Vậy, tôi sẽ có thế đáp lại cùng kẻ làm sỉ-nhục tôi;
Vì tôi tin-cậy nơi lời Chúa.
43. Xin chớ cất hết lời chơn-thật khỏi miệng tôi;
Vì tôi trông-cậy nơi mạng-lịnh Chúa.
44. Tôi sẽ hằng gìn-giữ luật-pháp Chúa
Cho đến đời đời vô-cùng.
45. Tôi cũng sẽ bước đi thong-dong,
Vì đã tìm-kiếm các giềng-mối Chúa.
46. Cũng sẽ nói về chứng-cớ Chúa trước mặt các vua,
Không phải mất-cỡ chút nào.
47. Tôi sẽ vui-vẻ về điều-răn Chúa,
Là điều-răn tôi yêu-mến.
48. Tôi cũng sẽ giơ tay lên hướng về điều-răn Chúa mà tôi yêu-mến,
Và suy-gẫm các luật-lệ Chúa.
49. Xin Chúa nhớ lại lời Chúa phán cho tôi-tớ Chúa,
Vì Chúa khiến tôi trông-cậy.
50. Lời Chúa làm cho tôi được sống lại,
Ấy là sự an-ủi tôi trong cơn hoạn-nạn.

Tác giả cầu xin sự nhơn-từ và cứu-rỗi của Đức Chúa Trời, biết rằng điều ấy sẽ giúp ông đứng vững trước những người sỉ-nhục và chống nghịch mình. Vì hoàn toàn tin cậy nơi Lời Chúa, ông mong muốn lời chân thật luôn ở trong miệng mình và cam kết tiếp tục giữ luật pháp Đức Chúa Trời đời đời. Ông mô tả sự tự do tìm được khi bước theo các giềng-mối của Chúa và bày tỏ sự sẵn lòng nói về chứng-cớ Ngài ngay trước mặt các vua. Trong hoạn-nạn, Lời Đức Chúa Trời trở thành sự an-ủi và nguồn sống của ông.

Thi Thiên 119:51-60 (VIE1934)
51. Kẻ kiêu-ngạo nhạo-báng tôi nhiều quá,
Nhưng tôi không xây bỏ luật-pháp Chúa.
52. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi đã nhớ lại mạng-lịnh Ngài khi xưa,
Nên tôi được an-ủi.
53. Nhơn vì kẻ ác bỏ luật-pháp Chúa,
Cơn giận nóng-nảy hãm bắt tôi.
54. Các luật-lệ Chúa làm bài hát tôi
Tại nhà tôi ở làm khách lạ.
55. Hỡi Đức Giê-hô-va, ban đêm tôi nhớ lại danh Ngài,
Cũng gìn-giữ luật-pháp Ngài.
56. Phần tôi đã được,
Là vì tôi có gìn-giữ các giềng-mối Chúa.
57. Đức Giê-hô-va là phần của tôi:
Tôi đã nói sẽ gìn-giữ lời Chúa.
58. Tôi đã hết lòng cầu-khẩn ơn Chúa,
Xin hãy thương-xót tôi tùy lời của Chúa.
59. Tôi tư-tưởng về đường-lối tôi,
Bèn trở bước tôi về chứng-cớ Chúa.
60. Tôi lật-đật, không chậm-trễ,
Mà gìn-giữ các điều-răn Chúa.

Dù bị những kẻ kiêu-ngạo chế nhạo, tác giả vẫn kiên định trong luật pháp Đức Chúa Trời và tìm thấy sự an-ủi khi nhớ lại những mạng-lịnh Ngài từ xưa. Ông cảm thấy sự phẫn nộ trước những kẻ ác bỏ luật pháp, nhưng các luật-lệ của Đức Chúa Trời vẫn trở thành bài hát của ông trong cuộc hành trình trên đất. Ông nhớ đến danh Chúa ngay cả ban đêm và xem Đức Giê-hô-va là phần của mình. Khi suy xét đường-lối mình, ông nhanh chóng quay trở lại với các chứng-cớ của Chúa và quyết tâm không trì hoãn việc vâng giữ các điều-răn Ngài.

Thi Thiên 119:61-70 (VIE1934)
61. Dây kẻ ác đã vương-vấn tôi;
Nhưng tôi không quên luật-pháp Chúa.
62. Nhơn vì các mạng-lịnh công-bình của Chúa,
Tôi sẽ thức-dậy giữa đêm đặng cảm-tạ Chúa.
63. Tôi là bạn-hữu của mọi người kính-sợ Chúa,
Và của mọi kẻ giữ theo các giềng-mối Chúa.
64. Hỡi Đức Giê-hô-va, đất được đầy-dẫy sự nhơn-từ Ngài;
Xin hãy dạy tôi các luật-lệ Ngài.
65. Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã hậu-đãi kẻ tôi-tớ Ngài
Tùy theo lời của Ngài.
66. Xin hãy dạy tôi lẽ phải và sự hiểu-biết,
Vì tôi tin các điều-răn Chúa.
67. Trước khi chưa bị hoạn-nạn, thì tôi lầm-lạc;
Nhưng bây giờ tôi gìn-giữ lời Chúa.
68. Chúa là thiện và hay làm lành;
Xin hãy dạy tôi các luật-lệ Chúa.
69. Kẻ kiêu-ngạo đã đặt lời nói dối hại tôi;
Tôi sẽ hết lòng gìn-giữ giềng-mối của Chúa.
70. Lòng chúng nó dày như mỡ,
Còn tôi ưa-thích luật-pháp của Chúa.

Dù bị kẻ ác trói buộc và chống nghịch, tác giả vẫn không quên luật pháp Đức Chúa Trời. Ông thậm chí thức dậy giữa đêm để cảm tạ Chúa vì các mạng-lịnh công-bình của Ngài và tìm kiếm sự thông công với những người kính-sợ Đức Chúa Trời. Nhìn lại đời mình, ông nhận biết rằng trước khi bị hoạn-nạn ông đã lầm-lạc, nhưng sự hoạn-nạn đã đưa ông trở lại với Lời Chúa. Ông cầu xin sự khôn-ngoan và hiểu-biết, đồng thời vẫn hết lòng giữ các giềng-mối của Đức Chúa Trời dù những kẻ kiêu-ngạo đặt lời nói dối để hại mình.

Thi Thiên 119:71-80 (VIE1934)
71. Tôi đã bị hoạn-nạn thật lấy làm phải,
Hầu cho học theo luật-lệ của Chúa.
72. Luật-pháp của miệng Chúa phán là quí cho tôi
Hơn hằng ngàn đồng vàng và bạc.
73. Bàn tay Chúa đã làm tôi và nắn hình tôi;
Xin hãy ban cho tôi trí hiểu, để tôi học điều-răn Chúa.
74. Những người kính-sợ Chúa thấy tôi sẽ vui-vẻ;
Vì tôi trông-cậy lời của Chúa.
75. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biết rằng sự xét-đoán của Ngài là công-bình,
Và ấy là bởi sự thành-tín mà Ngài làm cho tôi bị khổ-nạn.
76. Chúa ơi, nguyện sự nhơn-từ Chúa an-uỉ tôi,
Y như Chúa đã phán cùng kẻ tôi-tớ Chúa.
77. Nguyện sự thương-xót Chúa đến cùng tôi, để tôi được sống;
Vì luật-pháp Chúa là điều tôi ưa-thích.
78. Nguyện kẻ kiêu-ngạo bị hổ-thẹn, vì chúng nó dùng sự giả-dối mà đánh-đổ tôi;
Song tôi sẽ suy-gẫm các giềng-mối Chúa.
79. Nguyện những kẻ kính-sợ Chúa
Trở lại cùng tôi, thì họ sẽ biết chứng-cớ của Chúa.
80. Nguyện lòng tôi được trọn-vẹn trong các luật-lệ Chúa,
Hầu cho tôi không bị hổ-thẹn.

Tác giả nhìn nhận rằng hoạn-nạn đã đem lại ích lợi cho ông vì qua đó ông học biết các luật-lệ của Đức Chúa Trời. Ông xem luật pháp từ miệng Chúa quý hơn hàng ngàn đồng vàng bạc và cầu xin Đấng đã dựng nên mình ban cho sự hiểu biết để học các điều-răn. Ông tin rằng những người kính-sợ Đức Chúa Trời sẽ vui mừng khi thấy ông vẫn trông-cậy nơi Lời Chúa. Ông tin sự xét-đoán của Đức Chúa Trời là công-bình và nhận biết rằng Ngài đã dùng sự thành-tín để sửa phạt ông. Vì vậy, ông cầu xin lòng thương-xót để được sống, đồng thời tiếp tục suy-gẫm các giềng-mối Chúa thay vì bị ảnh hưởng bởi sự giả-dối của kẻ kiêu-ngạo.

Thi Thiên 119:81-90 (VIE1934)
81. Linh-hồn tôi hao-mòn vì mong-ước sự cứu-rỗi của Chúa;
Song tôi trông-cậy lời của Chúa.
82. Mắt tôi hao-mòn vì mong-ước lời Chúa;
Tôi nói: Bao giờ Chúa sẽ an-ủi tôi?
83. Vì tôi trở thành như bầu da bị khói đóng đen;
Nhưng tôi không quên các luật-lệ Chúa.
84. Số các ngày kẻ tôi-tớ Chúa được bao nhiêu?
Chừng nào Chúa sẽ đoán-xét những kẻ bắt-bớ tôi?
85. Kẻ kiêu-ngạo đã đào hầm hại tôi,
Là việc chẳng làm theo luật-pháp của Chúa.
86. Các điều-răn Chúa là thành-tín;
Thiên-hạ dùng sự giả-dối bắt-bớ tôi; xin Chúa giúp-đỡ tôi.
87. Thiếu đều chúng nó diệt tôi khỏi mặt đất;
Nhưng tôi không lìa-bỏ các giềng-mối Chúa.
88. Xin hãy làm cho tôi được sống, tùy theo sự nhơn-từ Chúa,
Thì tôi sẽ gìn-giữ chứng-cớ của miệng Chúa.
89. Hỡi Đức Giê-hô-va, lời Ngài được vững lập đời đời trên trời:
90. Sự thành-tín Chúa còn đời nầy đến đời kia.
Chúa đã lập trái đất, đất còn vững-bền.

Tác giả đã kiệt sức vì mong đợi sự giải cứu của Đức Chúa Trời nhưng vẫn bám chặt vào hy vọng trong Lời Ngài. Dù cảm thấy mình như một bầu da bị khói làm đen và phải đối diện với sự bắt-bớ, ông vẫn không quên các luật-lệ của Chúa. Ông cầu xin Đức Chúa Trời thi hành sự xét-đoán đối với những kẻ kiêu-ngạo đã đào hầm hại mình và xin được sống lại nhờ sự nhơn-từ của Ngài. Giữa hoàn cảnh gần như bị tiêu diệt, ông không lìa bỏ các giềng-mối của Chúa. Sau đó, ông hướng mắt lên sự vững-bền đời đời của Lời Đức Chúa Trời và sự thành-tín của Ngài qua mọi thế hệ.

Thi Thiên 119:91-100 (VIE1934)
91. Tùy theo mạng-lịnh Chúa, các đều đó còn vững đến ngày nay;
Vì muôn vật đều hầu-việc Chúa.
92. Nếu luật-pháp Chúa không làm sự tôi ưa-thích,
Ắt tôi đã bị diệt-vong trong cơn hoạn-nạn.
93. Tôi chẳng hề quên giềng-mối Chúa,
Vì nhờ đó Chúa làm cho tôi được sống.
94. Tôi thuộc về Chúa, xin hãy cứu tôi;
Vì tôi tìm-kiếm các giềng-mối Chúa.
95. Những kẻ ác rình giết tôi;
Nhưng tôi chăm-chỉ về các chứng-cớ Chúa.
96. Tôi đã thấy sự cùng-tận của mọi vật trọn-vẹn;
Song luật-pháp Chúa lấy làm rộng thay.
97. Tôi yêu-mến luật-pháp Chúa biết bao!
Trọn ngày tôi suy-gẫm luật-pháp ấy.
98. Các điều-răn Chúa làm cho tôi khôn-ngoan hơn kẻ thù-nghịch tôi,
Vì các điều-răn ấy ở cùng tôi luôn luôn.
99. Tôi có trí hiểu hơn hết thảy kẻ dạy tôi,
Vì tôi suy-gẫm các chứng-cớ Chúa.
100. Tôi thông-hiểu hơn kẻ già-cả,
Vì có gìn-giữ các giềng-mối Chúa.

Tác giả nhìn thấy sự sáng tạo tiếp tục tồn tại theo mạng-lịnh của Đức Chúa Trời và nhận biết rằng muôn vật đều hầu việc Ngài. Ông suy ngẫm rằng luật pháp Chúa đã trở thành nguồn sống giúp ông tồn tại trong hoạn-nạn. Khi kẻ ác rình giết mình, ông tìm nơi nương náu trong việc suy-gẫm các chứng-cớ của Đức Chúa Trời. Ông nhận ra rằng mọi sự hoàn hảo của con người đều có giới hạn, nhưng luật pháp Đức Chúa Trời thì rộng lớn và không cùng. Tình yêu đối với luật pháp thúc đẩy ông suy-gẫm cả ngày, và sự vâng giữ Lời Chúa đem lại cho ông sự hiểu biết vượt hơn kẻ thù, những người dạy dỗ và những người già-cả.

Thi Thiên 119:101-110 (VIE1934)
101. Tôi giữ chơn tôi khỏi mọi đường tà,
Để gìn-giữ lời của Chúa.
102. Tôi không xây-bỏ mạng-lịnh Chúa;
Vì Chúa đã dạy-dỗ tôi.
103. Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao!
Thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi!
104. Nhờ giềng-mối Chúa tôi được sự thông-sáng;
Vì vậy, tôi ghét mọi đường giả-dối.
105. Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi,
Ánh sáng cho đường-lối tôi.
106. Tôi đã thề gìn-giữ mạng-lịnh công-bình của Chúa,
Và cũng đã làm theo sự thề ấy.
107. Đức Giê-hô-va ôi! tôi bị khổ-nạn quá đỗi;
Xin hãy làm cho tôi được sống tùy theo lời của Ngài.
108. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhậm lễ lạc-ý của miệng tôi,
Và dạy-dỗ tôi các mạng-lịnh Ngài.
109. Mạng-sống tôi hằng bị cơn nguy-hiểm,
Nhưng tôi không quên luật-pháp Chúa.
110. Những kẻ ác gài bẫy hại tôi;
Song tôi không lìa-bỏ giềng-mối Chúa.

Tác giả cẩn thận tránh mọi đường tà để có thể gìn giữ Lời Đức Chúa Trời. Mối quan hệ của ông với Đức Chúa Trời mang tính cá nhân, vì ông nhận biết chính Chúa đã dạy dỗ mình. Ông mô tả Lời Chúa ngọt hơn mật ong, cho thấy niềm vui sâu sắc mà Lời Ngài đem lại cho linh-hồn. Qua các giềng-mối của Đức Chúa Trời, ông nhận được sự thông-sáng và vì thế ghét mọi đường giả-dối. Lời Chúa trở thành ngọn đèn soi bước chân và ánh sáng cho đường-lối ông. Dù chịu hoạn-nạn nặng nề và mạng-sống luôn gặp nguy hiểm, ông vẫn không quên luật pháp Chúa và không lìa bỏ các giềng-mối Ngài.

Thi Thiên 119:111-120 (VIE1934)
111. Chứng-cớ Chúa là cơ-nghiệp tôi đến đời đời;
Vì ấy là sự mừng-rỡ của lòng tôi.
112. Tôi chuyên lòng làm theo luật-lệ Chúa
Luôn luôn, và cho đến cuối-cùng.
113. Tôi ghét những kẻ hai lòng,
Nhưng yêu-mến luật-pháp của Chúa.
114. Chúa là nơi ẩn-náu và cái khiên của tôi;
Tôi trông-cậy nơi lời Chúa.
115. Hỡi kẻ làm ác, hãy lìa-khỏi ta,
Để ta giữ điều-răn của Đức Chúa Trời ta.
116. Xin Chúa nâng-đỡ tôi tùy lời của Chúa, hầu cho tôi được sống;
Chớ để tôi bị hổ-thẹn về sự trông-cậy tôi.
117. Xin hãy nâng-đỡ tôi, thì tôi sẽ được bình-an vô-sự,
Cũng thường thường chăm-chỉ về các luật-lệ của Chúa.
118. Chúa từ-chối những kẻ lầm-lạc luật-lệ Chúa;
Vì mưu-chước chúng nó chỉ là sự giả-dối mà thôi.
119. Chúa cất bỏ kẻ ác khỏi thế-gian như xác-bã;
Nhơn đó tôi yêu-mến các chứng-cớ của Chúa.
120. Thịt tôi rỡn-ốc vì sợ-hãi Chúa,
Cũng sợ sự đoán-xét của Chúa.

Tác giả xem các chứng-cớ của Đức Chúa Trời là cơ-nghiệp đời đời và là niềm vui của lòng mình. Ông quyết tâm chuyên lòng làm theo luật-lệ Chúa đến cuối cùng và từ chối sự hai lòng. Đức Chúa Trời là nơi ẩn-náu và cái khiên của ông, là Đấng ông trông-cậy giữa nghịch cảnh. Ông cầu xin được nâng đỡ để tiếp tục sống và không bị hổ thẹn về sự trông-cậy của mình. Ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ từ chối những kẻ lầm-lạc khỏi luật pháp Ngài và cuối cùng cất bỏ kẻ ác, trong khi sự kính-sợ trước Đức Chúa Trời khiến ông càng quyết tâm trung tín với Ngài.

Thi Thiên 119:121-130 (VIE1934)
121. Tôi đã làm đều ngay-thẳng và công-bình;
Chớ phó tôi cho kẻ hà-hiếp tôi.
122. Xin Chúa làm Đấng bảo-lãnh cho kẻ tôi-tớ Chúa được phước;
Chớ để kẻ kiêu-ngạo hà-hiếp tôi.
123. Mắt tôi hao-mòn vì mong-ước sự cứu-rỗi.
Và lời công-bình của Chúa.
124. Xin hãy đãi kẻ tôi-tớ Chúa theo sự nhơn-từ Chúa,
Và dạy tôi các luật-lệ Chúa.
125. Tôi là kẻ tôi-tớ Chúa; xin hãy ban cho tôi sự thông-sáng,
Để tôi hiểu-biết các chứng-cớ của Chúa.
126. Phải thì cho Đức Giê-hô-va làm,
Vì loài người đã phế luật-pháp Ngài.
127. Nhơn đó tôi yêu-mến điều-răn Chúa
Hơn vàng, thậm-chí hơn vàng ròng.
128. Vì vậy, tôi xem các giềng-mối Chúa về muôn vật là phải;
Tôi ghét mọi đường giả-dối.
129. Chứng-cớ Chúa thật lạ-lùng;
Cho nên lòng tôi giữ lấy.
130. Sự bày-giãi lời Chúa, soi sáng cho,
Ban sự thông-hiểu cho người thật-thà.

Tác giả cầu xin Đức Chúa Trời bảo vệ mình khỏi những kẻ hà-hiếp, đồng thời nhấn mạnh rằng ông đã làm điều ngay-thẳng và công-bình. Ông cầu xin sự nhơn-từ và sự thông-sáng để hiểu biết các chứng-cớ của Đức Chúa Trời. Khi nhìn thấy loài người phế bỏ luật pháp Chúa, ông kêu cầu Ngài hành động. Tình yêu của ông đối với các điều-răn lớn hơn tình yêu đối với vàng, thậm chí vàng ròng. Ông xem mọi giềng-mối của Đức Chúa Trời là phải và ghét mọi đường giả-dối. Lời Chúa được bày-giãi đem ánh sáng và sự thông-hiểu cho người thật-thà, cho thấy giá trị của Lời Ngài trong việc soi sáng tâm trí con người.

Thi Thiên 119:131-140 (VIE1934)
131. Tôi mở miệng ra thở,
Vì rất mong-ước các điều-răn Chúa.
132. Xin Chúa hãy xây lại cùng tôi, và thương-xót tôi,
Y như thói-thường Chúa đối cùng người yêu-mến danh Chúa.
133. Xin hãy làm cho bước tôi vững trong lời Chúa;
Chớ để sự gian-ác gì lấn-lướt trên tôi.
134. Xin hãy chuộc tôi khỏi sự hà-hiếp của loài người,
Thì tôi sẽ giữ theo các giềng-mối Chúa.
135. Xin hãy làm cho mặt Chúa soi sáng trên kẻ tôi-tớ Chúa,
Và dạy tôi các luật-lệ Chúa.
136. Những suối lệ chảy từ mắt tôi,
Bởi vì người ta không giữ luật-pháp của Chúa.
137. Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là công-bình,
Sự đoán-xét của Ngài là ngay-thẳng.
138. Chúa lấy sự công-bình, sự thành-tín,
Mà truyền ra chứng-cớ của Chúa.
139. Sự sốt-sắng tiêu-hao tôi,
Vì kẻ hà-hiếp tôi đã quên lời Chúa.
140. Lời Chúa rất là tinh-sạch,
Nên kẻ tôi-tớ Chúa yêu-mến lời ấy.

Tác giả bày tỏ lòng khao khát sâu sắc đối với các điều-răn của Đức Chúa Trời, giống như người đang thở hổn hển vì khao khát. Ông cầu xin lòng thương-xót và xin Đức Chúa Trời hướng dẫn từng bước chân để tội lỗi không thống trị mình. Ông cầu xin được giải cứu khỏi sự hà-hiếp của con người để có thể tiếp tục giữ các giềng-mối Chúa. Khi nhìn thấy người ta không giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, ông khóc lóc vì đau buồn. Ông khẳng định Đức Giê-hô-va là công-bình, các sự đoán-xét của Ngài ngay-thẳng và các chứng-cớ Ngài là công-bình, thành-tín. Sự sốt-sắng đối với Lời Chúa tiêu hao ông, nhưng càng suy-gẫm về sự tinh-sạch của Lời Ngài, ông càng yêu-mến nó.

Thi Thiên 119:141-150 (VIE1934)
141. Tôi nhỏ hèn, bị khinh-dể,
Nhưng không quên các giềng-mối Chúa.
142. Sự công-bình Chúa là sự công-bình đời đời,
Luật-pháp Chúa là chơn-thật.
143. Sự gian-truân và sự sầu-khổ áp hãm tôi;
Dầu vậy, các điều-răn Chúa là đều tôi ưa-thích.
144. Chứng-cớ Chúa là công-bình đời đời.
Xin hãy ban cho tôi sự thông-hiểu, thì tôi sẽ được sống.
145. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi hết lòng kêu-cầu Ngài; xin hãy đáp lại tôi;
Tôi sẽ gìn-giữ luật-lệ Ngài.
146. Tôi đã kêu-cầu Chúa; xin hãy cứu tôi,
Thì tôi sẽ giữ các chứng-cớ Chúa.
147. Tôi thức trước rạng-đông và kêu-cầu;
Tôi trông-cậy nơi lời Chúa.
148. Canh đêm chưa khuya, mắt tôi mở tỉnh ra,
Đặng suy-gẫm lời Chúa.
149. Hỡi Đức Giê-hô-va, theo sự nhơn-từ Ngài, xin hãy nghe tiếng tôi;
Hãy khiến tôi được sống, tùy mạng-lịnh Ngài.
150. Những kẻ đeo-đuổi sự dữ đến gần;
Chúng nó cách xa luật-pháp của Chúa.

Tác giả nhận biết mình nhỏ hèn và bị khinh-dể trong mắt người khác, nhưng ông không quên các giềng-mối của Đức Chúa Trời. Sự công-bình của Chúa là đời đời và luật pháp Ngài là chân thật, vì vậy ngay cả khi gian-truân và sầu-khổ áp hãm ông, các điều-răn vẫn là niềm vui của ông. Ông kêu cầu Đức Chúa Trời với cả tấm lòng, thức dậy trước rạng đông và thức trong đêm để cầu nguyện và suy-gẫm Lời Chúa. Ông trông-cậy nơi Lời Ngài để được cứu, được sống và được thêm sức, trong khi những kẻ theo đuổi sự dữ ngày càng đến gần nhưng lại cách xa luật pháp Đức Chúa Trời.

Thi Thiên 119:151-160 (VIE1934)
151. Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài ở gần;
Các điều-răn Ngài là chơn-thật.
152. Cứ theo chứng-cớ Chúa
Tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều-răn ấy đến đời đời.
153. Xin hãy xem nỗi khổ-nạn tôi, và giải-cứu tôi;
Vì tôi không quên luật-pháp của Chúa.
154. Xin hãy binh-vực duyên-cớ tôi, và chuộc tôi;
Cũng hãy khiến tôi được sống tùy theo lời Chúa.
155. Sự cứu-rỗi cách xa kẻ ác,
Vì chúng nó không tìm-hỏi các luật-lệ Chúa.
156. Đức Giê-hô-va ơi, sự thương-xót Ngài rất lớn;
Xin hãy khiến tôi được sống tùy theo luật-lệ Ngài.
157. Kẻ bắt-bớ và kẻ hà-hiếp tôi thật nhiều lắm;
Nhưng tôi không xây bỏ chứng-cớ Chúa.
158. Tôi thấy kẻ gian-tà, bèn gớm-ghiếc chúng nó;
Vì chúng nó không giữ lời Chúa.
159. Xin hãy xem tôi yêu-mến giềng-mối Chúa dường bao!
Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy khiến tôi được sống tùy sự nhơn-từ Ngài.
160. Sự tổng-cọng lời của Chúa là chơn-thật,
Các mạng-lịnh công-bình của Chúa còn đời đời.

Tác giả được thêm sức khi biết rằng Đức Chúa Trời ở gần và các điều-răn của Ngài là chân thật, đời đời. Ông cầu xin được giải cứu khỏi hoạn-nạn và nhắc lại rằng mình không quên luật pháp Chúa. Dù có rất nhiều kẻ bắt-bớ và hà-hiếp, ông vẫn không xây bỏ các chứng-cớ của Đức Chúa Trời. Ông đau buồn và ghê tởm sự gian-tà vì những người ấy không giữ Lời Chúa. Một lần nữa, ông nhấn mạnh lòng yêu-mến các giềng-mối của Đức Chúa Trời và cầu xin được sống theo sự nhơn-từ Ngài, tin chắc rằng toàn bộ Lời Chúa là chân thật và các mạng-lịnh công-bình của Ngài còn đời đời.

Thi Thiên 119:161-170 (VIE1934)
161. Những vua-chúa đã bắt-bớ tôi vô-cớ,
Song lòng tôi kính-sợ lời Chúa.
162. Tôi vui-vẻ về lời Chúa,
Khác nào kẻ tìm được mồi lớn.
163. Tôi ghét, tôi ghê sự dối-trá,
Song tôi yêu-mến luật-pháp Chúa.
164. Mỗi ngày tôi ngợi-khen Chúa bảy lần,
Vì cớ mạng-lịnh công-bình của Chúa.
165. Phàm kẻ nào yêu-mến luật-pháp Chúa được bình-yên lớn;
Chẳng có sự gì gây cho họ sa-ngã.
166. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi có trông-cậy nơi sự cứu-rỗi của Ngài.
Và làm theo các điều-răn Ngài.
167. Linh-hồn tôi đã gìn-giữ chứng-cớ Chúa,
Tôi yêu-mến chứng-cớ ấy nhiều lắm.
168. Tôi có gìn-giữ giềng-mối và chứng-cớ Chúa,
Bởi vì đường-lối tôi đều ở trước mặt Chúa.
169. Hỡi Đức Giê-hô-va, nguyện tiếng kêu của tôi thấu đến Ngài.
Xin hãy ban cho tôi sự thông-sáng tùy theo lời Chúa.
170. Nguyện lời cầu-khẩn tôi thấu đến trước mặt Chúa;
Xin hãy giải-cứu tôi tùy theo lời Chúa.

Tác giả vẫn trung tín với Lời Đức Chúa Trời dù bị những người có quyền thế bắt-bớ vô cớ. Ông vui mừng về Lời Chúa như người tìm được một kho báu lớn và ghét sự dối-trá nhưng yêu-mến luật pháp Ngài. Ông ngợi-khen Đức Chúa Trời nhiều lần trong ngày vì các mạng-lịnh công-bình của Ngài. Ông tin rằng người yêu-mến luật pháp Chúa có sự bình-yên lớn và không dễ bị vấp ngã. Trong khi trông-cậy sự cứu-rỗi, ông vẫn tiếp tục làm theo các điều-răn và gìn-giữ các chứng-cớ của Đức Chúa Trời, biết rằng mọi đường-lối của mình đều ở trước mặt Ngài. Ông kết thúc phần này bằng lời cầu xin sự thông-sáng và giải-cứu theo Lời Chúa.

Thi Thiên 119:171-176 (VIE1934)
171. Nguyện môi-miệng tôi đồn ra sự ngợi-khen Chúa;
Vì Chúa dạy tôi các luật-lệ Chúa.
172. Nguyện lưỡi tôi hát-xướng về lời Chúa;
Vì hết thảy điều-răn Chúa là công-bình.
173. Nguyện tay Chúa sẵn giúp-đỡ tôi;
Vì tôi chọn các giềng-mối Chúa.
174. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi mong-ước sự cứu-rỗi của Chúa;
Luật-pháp Chúa là sự tôi ưa-thích.
175. Nguyện linh-hồn tôi được sống, thì nó sẽ ngợi-khen Chúa;
Nguyện mạng-lịnh Chúa giúp-đỡ tôi.
176. Tôi xiêu-lạc khác nào con chiên mất:
Xin hãy tìm-kiếm kẻ tôi-tớ Chúa,
Vì tôi không quên điều-răn của Chúa.

Tác giả kết thúc Thi Thiên bằng lời cam kết rằng môi-miệng mình sẽ tiếp tục ngợi-khen Đức Chúa Trời vì Ngài đã dạy các luật-lệ cho ông. Ông tuyên bố rằng tất cả các điều-răn của Đức Chúa Trời đều là công-bình và cầu xin tay Ngài giúp đỡ mình vì ông đã chọn các giềng-mối của Chúa. Ông mong ước sự cứu-rỗi và xem luật pháp Đức Chúa Trời là điều mình ưa-thích. Ông cầu xin linh-hồn mình được sống để tiếp tục ngợi-khen Ngài. Tuy nhiên, câu cuối cùng cũng bày tỏ sự khiêm nhường sâu sắc: tác giả thừa nhận mình đã xiêu-lạc như một con chiên mất và cầu xin Đức Chúa Trời tìm kiếm mình. Dù vậy, ông vẫn khẳng định rằng mình không quên các điều-răn của Chúa. Như vậy, Thi Thiên 119 kết thúc bằng cùng một chủ đề xuyên suốt toàn bài: tình yêu đối với Lời Đức Chúa Trời, sự nương cậy nơi Lời Ngài, lòng khao khát được Đức Chúa Trời hướng dẫn và niềm tin rằng Lời Ngài là chân thật, công-bình và còn đến đời đời.

bottom of page