
Xuất Ê-díp-tô Ký 27
Xuất Ê-díp-tô Ký 27 trình bày những chỉ dẫn cụ thể về việc xây dựng các phần quan trọng của Đền Tạm. Phần đầu mô tả bàn thờ dâng của lễ thiêu, nơi các sinh tế được dâng lên, tượng trưng cho sự thờ phượng và sự chuộc tội của Y-sơ-ra-ên. Tiếp theo, phân đoạn đưa ra những chi tiết về việc xây dựng hành lang bao quanh Đền Tạm, nhấn mạnh sự phân biệt giữa nơi thánh và nơi thông thường. Cuối cùng, chương kết thúc bằng những chỉ dẫn về dầu dùng cho chân đèn, bảo đảm rằng ánh sáng tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời luôn cháy liên tục.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:1-3 (VIE1934)
1 Ngươi cũng hãy đóng một bàn thờ bằng cây si-tim, hình vuông, năm thước bề dài, năm thước bề ngang, và bề cao ba thước.
2 Nơi bốn góc bàn thờ hãy làm sừng ló ra và bọc đồng.
3 Những đồ phụ tùng của bàn thờ thì hãy làm bằng đồng: bình đựng tro, vá, ảng, nỉa và bình hương.
Bàn thờ là trung tâm của hệ thống dâng sinh tế của Y-sơ-ra-ên, được làm bằng cây si-tim bền chắc và bọc đồng, tượng trưng cho sức mạnh và sự bền vững. Những sừng ở bốn góc, về sau có ý nghĩa tôn giáo như một nơi có thể nắm lấy để được bảo vệ, là một phần không thể thiếu trong thiết kế của bàn thờ. Tất cả những dụng cụ dùng trong việc dâng sinh tế—bình đựng tro, vá, ảng và nỉa—cũng được làm bằng đồng, phản ánh chức năng của bàn thờ trong việc xử lý sức nóng dữ dội của các của lễ thiêu. Điều này vừa bảo đảm chức năng thực tế của bàn thờ vừa nhấn mạnh sự thánh khiết của nơi các sinh tế được dâng lên.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:4-5 (VIE1934)
4 Lại làm cho bàn thờ một tấm rá bằng lưới đồng; và nơi bốn góc rá làm bốn cái khoen bằng đồng;
5 rồi để rá đó dưới thành bàn thờ, từ dưới chân lên đến nửa bề cao.
Tấm rá bằng đồng bên dưới bàn thờ được thiết kế để tro và phần còn lại của các của lễ thiêu có thể rơi xuống, giúp duy trì sự sạch sẽ và trật tự. Những khoen bằng đồng ở các góc cho phép bàn thờ được di chuyển, để dân Y-sơ-ra-ên có thể mang theo khi họ di chuyển trong đồng vắng, nhấn mạnh tính lưu động của sự thờ phượng trong hành trình của họ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:6-8 (VIE1934)
6 Cũng hãy chuốt đòn khiêng bàn thờ bằng cây si-tim, bọc đồng,
7 rồi xỏ vào những khoen; khi khiêng đi, đòn sẽ ở hai bên bàn thờ.
8 Bàn thờ sẽ đóng bằng ván, trống bộng, làm y như đã chỉ cho ngươi trên núi vậy.
Các cây đòn cũng được làm bằng cây si-tim và bọc đồng, được xỏ vào những khoen để vận chuyển bàn thờ. Điều này cho phép bàn thờ được khiêng đi mà không cần chạm trực tiếp vào nó, nhấn mạnh sự thánh khiết của bàn thờ. Mệnh lệnh làm bàn thờ trống bộng cho thấy thiết kế thực tế nhằm thuận tiện cho việc vận chuyển mà vẫn duy trì độ bền. Đức Chúa Trời truyền phải làm theo kiểu mẫu đã được chỉ cho trên núi, bày tỏ thẩm quyền thiêng liêng đứng phía sau những thiết kế này và sự chính xác cần thiết trong sự thờ phượng của Y-sơ-ra-ên.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:9-11 (VIE1934)
9 Ngươi cũng hãy làm cái hành lang cho đền tạm. Về phía nam của hành lang làm bố vi bằng vải gai đậu mịn, dài trăm thước,
10 cùng hai chục cây trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng; đinh và nuông trụ thì bằng bạc.
11 Về phía bắc cũng vậy; bố vi đó có trăm thước bề dài, hai chục cây trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng; đinh và nuông trụ thì bằng bạc.
Hành lang của Đền Tạm là một khu vực rộng được bao bọc, xác định ranh giới của nơi thánh. Vải gai đậu mịn tượng trưng cho sự thanh sạch, biệt riêng khu vực thánh của Đền Tạm khỏi thế giới thông thường. Sự tương phản giữa các lỗ trụ bằng đồng, tượng trưng cho sự phán xét và sức mạnh, với những đinh và nuông trụ bằng bạc, tượng trưng cho sự cứu chuộc, nhấn mạnh sự cân bằng giữa công lý và lòng thương xót trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Những chỉ dẫn chi tiết về hành lang phản ánh mong muốn của Đức Chúa Trời về sự kính sợ trong sự thờ phượng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:12-15 (VIE1934)
12 Bố-vi của hành lang về phía tây có năm chục thước bề dài, mười cây trụ và mười lỗ trụ.
13 Bề ngang của hành lang phía trước, tức là phía đông, có năm chục thước:
14 phía hữu có mười lăm thước bố vi, ba cây trụ và ba lỗ trụ;
15 phía tả có mười lăm thước bố vi, ba cây trụ và ba lỗ trụ.
Phía tây và phía đông của hành lang được thiết kế cân đối, với sự tập trung rõ ràng vào lối vào đã được chỉ định ở phía đông. Những tấm bố vi ở hai bên cổng tạo nên một cấu trúc có trật tự, nhấn mạnh tầm quan trọng của ranh giới và sự phân biệt giữa nơi thánh và nơi thông thường. Những kích thước chi tiết bảo đảm một không gian cân đối và hữu dụng, đồng thời cũng được biệt riêng và có mục đích rõ ràng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:16-17 (VIE1934)
16 Còn cửa hành lang có một bức màn dài hai chục thước bằng vải gai đậu mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu, cùng vốn cây trụ và bốn lỗ trụ.
17 Hết thảy trụ xung quanh hành lang đều sẽ có nhờ nuông bạc chắp lại với nhau; đinh trụ thì bằng bạc, lỗ trụ thì bằng đồng.
Cổng là lối vào nơi thánh và được làm bằng những sợi chỉ có màu tím, đỏ điều và đỏ sặm, tượng trưng cho vương quyền, chức tế lễ và sự hy sinh. Vải gai đậu mịn nhấn mạnh sự khéo léo thánh khiết cần thiết trong công việc chế tạo. Các cây trụ và lỗ trụ củng cố sự phân cách giữa nơi Đức Chúa Trời ngự và thế giới bên ngoài. Việc sử dụng bạc và đồng trong thiết kế phản ánh mục đích cứu chuộc của Đức Chúa Trời kết hợp với sự phán xét công bình của Ngài.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:18-19 (VIE1934)
18 Bề dài của hành lang được một trăm thước, bề ngang, mỗi phía, năm chục thước, bề cao năm thước; bố vi sẽ bằng vải gai đậu mịn, còn những lỗ trụ thì bằng đồng.
19 Hết thảy đồ phụ tùng dùng về các việc phụng sự trong đền tạm, cùng cây nọc của đền tạm và cây nọc của hành lang, đều sẽ làm bằng đồng.
Kích thước của hành lang được quy định nhằm bảo đảm một không gian được xác định và bao quanh, vừa có chức năng thực tế vừa tượng trưng cho sự hiện diện có trật tự của Đức Chúa Trời giữa dân Ngài. Chiều cao của các tấm bố vi, năm thước, tạo sự riêng biệt giữa khu vực thánh và thế giới bên ngoài. Việc tất cả các dụng cụ, cây nọc và lỗ trụ đều bằng đồng nhấn mạnh độ bền và sự thích hợp của những vật dụng được dùng trong sự thờ phượng, đồng thời củng cố ý nghĩa về sức mạnh và sự bền vững trong các nghi lễ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27:20-21 (VIE1934)
20 Ngươi hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem đến dầu lọc ô-li-ve ép, đặng thắp đèn cho đèn sáng luôn luôn.
21 Trong hội mạc, ở ngoài màn, trước hòm bảng chứng, A-rôn cùng các con trai người sẽ lo sửa soạn đèn, hầu cho trước mặt Đức Giê-hô-va đèn cháy luôn luôn từ tối cho đến sáng. Ấy là một luật đời đời cho dòng dõi dân Y-sơ-ra-ên phải giữ.
Mệnh lệnh đem dầu ô-li-ve tinh lọc tượng trưng cho sự thanh sạch và thánh khiết cần có khi đến gần Đức Chúa Trời. Ánh sáng của chân đèn tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời và tính liên tục của giao ước Ngài với Y-sơ-ra-ên. A-rôn và các con trai ông, với tư cách là các thầy tế lễ, có trách nhiệm giữ cho đèn luôn cháy, nhấn mạnh vai trò liên tục và chủ động của chức tế lễ trong việc duy trì sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Đây là một luật đời đời, cho thấy tính bền lâu của mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với dân Ngài.

