
Xuất Ê-díp-tô Ký 4
Xuất Ê-díp-tô Ký 4 tiếp tục thuật lại sự tương giao giữa Đức Chúa Trời và Môi-se, khi Đức Chúa Trời giải quyết những sự do dự và lo lắng của Môi-se về sứ mạng dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập. Đức Chúa Trời ban cho Môi-se những dấu lạ để thuyết phục dân Y-sơ-ra-ên và trả lời những nghi ngại của ông. Chương này cũng giới thiệu A-rôn, người sẽ hỗ trợ Môi-se trong sứ mạng của mình. Qua đó, chúng ta thấy sự miễn cưỡng của Môi-se, sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời và khởi đầu của việc Môi-se trở về Ai Cập để đối diện với Pha-ra-ôn.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:1 (VIE1934)
1 Môi-se thưa rằng: Nhưng dân đó sẽ chẳng tin và chẳng vâng lời tôi, vì sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va chẳng có hiện ra cùng người đâu.
Môi-se bày tỏ sự nghi ngờ về việc dân sự có tin vào sứ mạng của ông hay không. Ông lo rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ không chấp nhận thẩm quyền của mình hoặc sứ điệp mà ông mang đến. Điều này cho thấy sự bất an và sợ hãi của Môi-se trước việc người khác có công nhận sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống ông hay không. Câu hỏi của ông phản ánh khuynh hướng của con người là nghi ngờ khả năng của chính mình khi được kêu gọi thực hiện mục đích của Đức Chúa Trời, đặc biệt khi phải đối diện với sự chống đối hoặc hoài nghi.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:2-4 (VIE1934)
2 Đức Giê-hô-va phán rằng: Trong tay ngươi cầm vật chi? Thưa rằng: Một cây gậy.
3 Phán rằng: Hãy ném xuống đất đi. Người bèn ném xuống đất, gậy hóa ra một con rắn; Môi-se chạy trốn nó.
4 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi ra nắm đuôi nó. Người giơ tay ra nắm, thì nó hườn lại cây gậy trong tay.
Đức Chúa Trời đáp lại sự nghi ngờ của Môi-se bằng cách ban cho ông một dấu hiệu hữu hình về quyền năng thần thượng. Cây gậy, một vật dụng bình thường, trở thành một con rắn khi bị ném xuống đất, cho thấy Đức Chúa Trời có thể sử dụng những điều bình thường để thực hiện những việc phi thường. Phản ứng đầu tiên của Môi-se là sợ hãi và chạy khỏi con rắn, bày tỏ sự yếu đuối tự nhiên của con người khi đối diện với điều siêu nhiên. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời truyền cho ông đưa tay ra nắm lấy con rắn, đòi hỏi Môi-se phải can đảm và tin cậy nơi Ngài khi đối diện với những thử thách.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:5 (VIE1934)
5 Đức Giê-hô-va phán rằng: Ấy để cho chúng nó tin rằng Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra cùng ngươi.
Dấu lạ này được ban để dân Y-sơ-ra-ên tin rằng Môi-se thật sự được sai bởi Đức Chúa Trời của tổ phụ họ. Nó nối kết sứ mạng của Môi-se với giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, nhấn mạnh sự tiếp nối của những lời hứa của Đức Chúa Trời. Dấu lạ này xác nhận rằng Môi-se không hành động theo ý riêng mình, nhưng đang thi hành một sứ mạng dưới thẩm quyền của Đức Chúa Trời.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:6-7 (VIE1934)
6 Đức Giê-hô-va lại phán rằng: Hãy đặt tay ngươi vào lòng. Người liền đặt vào, rồi lấy ra. Nầy, tay người phung trắng như tuyết.
7 Đoạn, Ngài phán rằng: Hãy đặt tay ngươi vào lòng lại; người bèn đặt vào, rồi lấy ra. Kia, tay trở lại như thịt mình.
Đức Chúa Trời ban cho Môi-se một dấu lạ thứ hai, khiến tay ông trở nên phung rồi chữa lành tay ông. Sự biến đổi kỳ diệu từ khỏe mạnh sang bệnh tật rồi trở lại bình thường cho thấy quyền năng của Đức Chúa Trời trên sự sống, sức khỏe và bệnh tật. Bệnh phung là một tình trạng đáng sợ trong thời cổ đại và thường liên quan đến sự ô uế và bị loại khỏi cộng đồng. Bằng việc chữa lành bàn tay Môi-se, Đức Chúa Trời cho thấy Ngài có quyền làm cho con người bị đau đớn nhưng cũng có quyền phục hồi, qua đó chuẩn bị Môi-se đối diện với sự nghi ngờ của dân Y-sơ-ra-ên.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:8-9 (VIE1934)
8 Lại phán: Nếu khi nào dân đó chẳng tin ngươi và chẳng vâng theo tiếng của dấu thứ nhất, thì sẽ tin theo tiếng của dấu thứ nhì.
9 Vả lại, nếu dân chẳng tin cả hai dấu nầy, và không vâng theo lời ngươi, thì hãy lấy nước dưới sông mà làm tràn ngập trên mặt đất; nước mà ngươi đã lấy dưới sông lên đó, sẽ thành máu trên mặt đất vậy.
Đức Chúa Trời ban cho Môi-se tổng cộng ba dấu lạ, mỗi dấu đều bày tỏ quyền năng của Ngài cách mạnh mẽ hơn. Nếu cây gậy biến thành rắn và bàn tay phung không đủ để dân sự tin, thì việc nước sông trở thành máu sẽ là dấu hiệu cuối cùng. Dấu lạ này báo trước tai vạ đầu tiên sẽ giáng trên Ai Cập và tượng trưng cho quyền năng của Đức Chúa Trời trên sự sống và sự chết, đồng thời báo trước sự phán xét sắp đến trên Ai Cập.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:10-12 (VIE1934)
10 Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ôi! lạy Chúa, từ hôm qua, hôm kia, hay là từ lúc Chúa phán dạy kẻ tôi-tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập-ngừng.
11 Đức Giê-hô-va bèn phán rằng: Ai tạo miệng loài người ra? hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mờ? Có phải ta là Đức Giê-hô-va chăng?
12 Vậy bây giờ, hãy đi; ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói.
Môi-se tiếp tục nói lên sự bất toàn của mình, lần này tập trung vào việc ông không giỏi ăn nói. Nỗi sợ phải nói trước người khác cho thấy một sự bất an sâu xa hơn về khả năng hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Trời giao phó. Đức Chúa Trời đáp lại bằng cách nhắc Môi-se rằng chính Ngài là Đấng tạo nên miệng con người và kiểm soát những khả năng cũng như giới hạn của con người. Ngài hứa sẽ ở cùng Môi-se và dạy ông phải nói điều gì. Cuộc đối thoại này cho thấy Đức Chúa Trời trang bị cho những người Ngài kêu gọi, bất kể những yếu đuối cá nhân của họ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:13-14 (VIE1934)
13 Môi-se thưa rằng: Ôi! lạy Chúa, Chúa muốn sai ai đi, thì sai.
14 Đức Giê-hô-va bèn nổi giận cùng Môi-se mà phán rằng: Có phải A-rôn, người Lê-vi, là anh ngươi chăng? Ta biết người đó có tài nói giỏi, và kìa, người đang đi đến đón ngươi kia; khi thấy ngươi, chắc sẽ vui mừng trong lòng.
Dù Đức Chúa Trời đã nhiều lần trấn an, Môi-se vẫn cầu xin Ngài sai một người khác, cho thấy sự miễn cưỡng và thiếu tự tin của ông. Điều này khiến Đức Chúa Trời nổi giận, vì những lời phản đối liên tiếp của Môi-se cho thấy ông đang chống lại sự kêu gọi của Ngài. Tuy nhiên, thay vì bỏ Môi-se, Đức Chúa Trời ban A-rôn, anh của ông, làm người hỗ trợ. Việc A-rôn được đưa vào cho thấy sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời trước sự yếu đuối của con người và sự sẵn lòng của Ngài thích ứng với những giới hạn của Môi-se để hoàn thành mục đích của mình.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:15-17 (VIE1934)
15 Vậy ngươi hãy nói cùng người, và sắp để những lời trong miệng người. Khi hai ngươi nói, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và miệng anh ngươi, dạy các ngươi những điều gì phải làm.
16 Ấy là người đó sẽ nói cùng dân sự thế cho ngươi, dùng làm miệng ngươi, còn ngươi sẽ dường như Đức Chúa Trời cho người vậy.
17 Ngươi hãy cầm lấy gậy nầy nơi tay, để dùng làm các dấu lạ.
Đức Chúa Trời thiết lập kế hoạch: Môi-se sẽ nhận lời chỉ dẫn từ Đức Chúa Trời và truyền lại cho A-rôn, còn A-rôn sẽ đóng vai trò là người phát ngôn. Sự sắp xếp này cho thấy Đức Chúa Trời vẫn có thể sử dụng con người dù họ có những giới hạn cá nhân. Môi-se giữ vai trò lãnh đạo, trong khi A-rôn trở thành người nói thay ông. Cây gậy tiếp tục giữ vị trí trung tâm trong sứ mạng của Môi-se, tượng trưng cho thẩm quyền và quyền năng của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua những dấu lạ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:18 (VIE1934)
18 Môi-se bèn đi, trở về Giê-trô, ông gia mình, mà thưa rằng: Xin cha hãy cho tôi trở về nơi anh em tôi tại xứ Ê-díp-tô, đặng thăm thử họ còn sống chăng. Giê-trô bèn nói cùng Môi-se rằng: Con hãy đi bình yên.
Sau cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời, Môi-se trở về xin phép cha vợ mình là Giê-trô để trở lại Ai Cập. Dù Môi-se không nói cho Giê-trô biết toàn bộ kế hoạch của Đức Chúa Trời, ông vẫn kính trọng và xin phép được rời đi. Giê-trô cho phép ông đi bình yên. Sự việc này cho thấy sự tôn trọng của Môi-se đối với gia đình và mong muốn rời đi trong hòa thuận, ngay cả khi ông chuẩn bị bắt đầu sứ mạng Đức Chúa Trời giao phó.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:19-20 (VIE1934)
19 Và, Đức Giê-hô-va có phán cùng Môi-se tại Ma-đi-an rằng: Hãy trở về xứ Ê-díp-tô, vì mấy người tìm giết người đã chết hết rồi.
20 Môi-se bèn dỡ vợ và con mình lên lưng lừa, trở về xứ Ê-díp-tô. Người cũng cầm cây gậy của Đức Chúa Trời theo trong tay.
Đức Chúa Trời trấn an Môi-se rằng giờ đây ông có thể trở về Ai Cập an toàn, vì những người từng tìm giết ông đã chết. Điều này loại bỏ một trong những nỗi sợ của Môi-se và giúp ông tập trung vào sứ mạng trước mắt. Môi-se đem theo vợ và các con trai rồi bắt đầu hành trình. Cây gậy giờ đây được gọi là “cây gậy của Đức Chúa Trời,” tượng trưng cho thẩm quyền thần thượng và sẽ giữ vai trò quan trọng trong những dấu lạ sắp xảy ra. Sự vâng phục của Môi-se đánh dấu bước khởi đầu thực sự của sứ mạng giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:21 (VIE1934)
21 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Khi trở về xứ Ê-díp-tô, hãy cẩn thận về các dấu lạ của ta đã giao nơi tay ngươi mà làm trước mặt Pha-ra-ôn; nhưng ta sẽ khiến người cứng lòng chẳng cho dân sự đi.
Khi Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến lòng Pha-ra-ôn cứng cỏi, điều này không có nghĩa rằng Đức Chúa Trời chủ động làm cho lòng ông trở nên cứng cỏi đến mức Pha-ra-ôn không còn khả năng lựa chọn. Theo cách giải thích này, Đức Chúa Trời ngừng công việc cảm hóa lòng Pha-ra-ôn qua sự cáo trách của Thánh Linh. Kết quả là Pha-ra-ôn bị để cho đi theo bản tính tự nhiên và những khuynh hướng tội lỗi của chính mình, khiến ông cứng lòng và chống nghịch Đức Chúa Trời. Khuynh hướng tự nhiên của Pha-ra-ôn đối với sự kiêu ngạo và chống đối chính là điều thúc đẩy ông khước từ mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Khi để Pha-ra-ôn đi theo bản tính tội lỗi của mình, Đức Chúa Trời vẫn hoàn thành mục đích của Ngài, vì các tai vạ sẽ bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời và cuối cùng dẫn đến sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:22-23 (VIE1934)
22 Vậy, ngươi phải tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Y-sơ-ra-ên là con ta, tức trưởng nam ta,
23 nên ta có phán cùng ngươi rằng: Hãy cho con ta đi, để nó phụng-sự ta, mà ngươi đã từ-chối không cho nó đi. Nầy, ta sẽ giết con trai ngươi, là con trưởng nam của ngươi.
Đức Chúa Trời gọi dân Y-sơ-ra-ên là “con ta,” tức “trưởng nam ta,” để nhấn mạnh mối quan hệ đặc biệt giữa Ngài với dân ấy. Trong thời cổ đại, con trưởng nam giữ một vị trí danh dự, quyền thừa kế và đặc quyền đặc biệt trong gia đình. Khi gọi Y-sơ-ra-ên là con trưởng nam, Đức Chúa Trời tuyên bố rằng Y-sơ-ra-ên là dân thuộc về Ngài, được biệt riêng và có một vai trò đặc biệt trong chương trình của Ngài. Danh xưng này cũng bày tỏ quyền sở hữu và sự bảo vệ: Đức Chúa Trời xem Y-sơ-ra-ên là dân của chính Ngài và Ngài cam kết giải cứu họ.
Sự đối lập với con trưởng của Pha-ra-ôn rất đáng chú ý. Nếu Pha-ra-ôn không chịu thả “con trưởng” của Đức Chúa Trời là Y-sơ-ra-ên, thì chính con trưởng của Pha-ra-ôn sẽ phải chết. Điều này cho thấy sự chống nghịch của Ai Cập đối với ý muốn của Đức Chúa Trời và sự áp bức dân Ngài cuối cùng sẽ dẫn đến sự phán xét nghiêm trọng. Việc Đức Chúa Trời gọi Y-sơ-ra-ên là con trưởng của Ngài bày tỏ cả tình yêu sâu sắc của Ngài đối với dân sự lẫn tính nghiêm trọng của mệnh lệnh phải để họ được tự do.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:24-26 (VIE1934)
24 Vả, đang khi đi đường, Đức Giê-hô-va hiện ra trước mặt Môi-se nơi nhà quán, và kiếm thế giết người đi.
25 Sê-phô-ra lấy con dao bằng đá, cắt dương bì của con mình, và quăng dưới chân Môi-se, mà nói rằng: Thật, chàng là huyết lang cho tôi!
26 Đức Giê-hô-va tha chồng; nàng bèn nói rằng: Huyết lang! là vì cớ phép cắt bì.
Đoạn này có thể khó hiểu, nhưng ý nghĩa trở nên rõ hơn khi xem xét bối cảnh của phép cắt bì. Cắt bì là dấu của giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài, bắt đầu từ Áp-ra-ham trong Sáng Thế Ký 17. Việc Môi-se không làm phép cắt bì cho con trai mình cho thấy ông đã không tuân giữ một yêu cầu quan trọng của giao ước. Đức Chúa Trời tìm cách đoán phạt Môi-se vì ông đã bỏ qua một hành động quan trọng tượng trưng cho mối quan hệ giao ước với Ngài.
Sê-phô-ra nhận thấy sự nghiêm trọng của tình hình và lập tức hành động bằng cách cắt bì cho con trai, nhờ đó cơn phán xét trên Môi-se được ngăn lại. Khi gọi Môi-se là “chàng là huyết lang cho tôi,” lời này có thể bày tỏ sự bực tức hoặc kinh ngạc của bà trước sự đau đớn và khẩn cấp của sự việc. Điều này cũng có thể bày tỏ rằng Sê-phô-ra hiểu mạng sống của Môi-se đã được giữ lại nhờ huyết gắn liền với phép cắt bì, qua đó liên kết vai trò của Môi-se với tư cách người chồng với hành động vâng phục giao ước có sự đổ huyết.
Sự kiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vâng phục giao ước của Đức Chúa Trời và cho thấy Môi-se cần phải hoàn toàn hòa hợp với các mạng lệnh của Đức Chúa Trời trước khi đảm nhận sứ mạng lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:27-28 (VIE1934)
27 Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng: Hãy đi đến đồng vắng, đón rước Môi-se. A-rôn bèn đi, gặp Môi-se tại núi của Đức Chúa Trời, và hôn người.
28 Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời của Đức Giê-hô-va sai mình truyền, và các dấu lạ mà Ngài đã dạy mình làm.
Đức Chúa Trời gọi A-rôn đi gặp Môi-se, chính thức bắt đầu sự hợp tác giữa hai anh em trong sứ mạng của họ. Cuộc gặp diễn ra tại núi của Đức Chúa Trời và được đánh dấu bằng một cái hôn đầy tình cảm. Môi-se kể cho A-rôn mọi điều Đức Chúa Trời đã phán với mình, gồm cả các dấu lạ và những chỉ dẫn phải làm. Khoảnh khắc này củng cố sự hiệp nhất và mục đích chung của hai anh em khi họ chuẩn bị đối diện với Pha-ra-ôn và dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4:29-31 (VIE1934)
29 Vậy, Môi-se đi cùng A-rôn, nhóm lại các trưởng lão dân Y-sơ-ra-ên.
30 A-rôn bèn thuật hết các lời của Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se, và làm những dấu lạ trước mắt dân sự.
31 Chúng bèn tin, hiểu rằng Đức Giê-hô-va đã thăm-viếng dân Y-sơ-ra-ên, và thấy điều cực-khổ của mình; chúng bèn cúi đầu và thờ-lạy.
Môi-se và A-rôn gặp các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, truyền lại sứ điệp của Đức Chúa Trời và thực hiện những dấu lạ trước mắt dân sự. A-rôn đóng vai trò phát ngôn, nói lại những lời Đức Chúa Trời đã phán với Môi-se, trong khi các dấu lạ xác nhận sứ mạng của họ. Dân sự tin và nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã đoái đến họ, nhìn thấy nỗi đau khổ của họ và chuẩn bị giải cứu họ. Phản ứng của họ là cúi đầu và thờ lạy, bày tỏ lòng biết ơn và kính sợ trước sự can thiệp của Đức Chúa Trời. Đây là bước khởi đầu của cuộc hành trình hướng đến sự giải phóng khỏi Ai Cập.

