
Xuất Ê-díp-tô Ký 21
Xuất Ê-díp-tô Ký 21 trình bày những luật lệ và mạng lịnh cụ thể mà Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên qua Môi-se, liên quan đến công lý, thương tích cá nhân và thân phận đầy tớ. Chương này đưa ra những quy định về cách đối xử với đầy tớ, cách giải quyết những trường hợp gây thương tích cho người khác và cách xử lý thiệt hại về tài sản. Những luật lệ này tạo thành một khuôn khổ để duy trì công lý trong một xã hội mong muốn sống theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:1-3 (VIE1934)
1 Đây là luật lệ ngươi phải truyền cho dân sự:
2 Nếu ngươi mua một người đầy tớ Hê-bơ-rơ, nó sẽ hầu việc cho sáu năm; nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ được thả ra, không phải thối tiền.
3 Nếu nó vào ở một mình, thì sẽ ra một mình; nếu có vợ, thì sẽ ra với vợ.
Những câu này thiết lập nguyên tắc về thân phận đầy tớ giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên. Một người đầy tớ Hê-bơ-rơ không được ở trong tình trạng lệ thuộc vĩnh viễn mà chỉ phải hầu việc tối đa sáu năm. Đến năm thứ bảy, người ấy được tự do. Ngoài ra, nếu người đầy tớ bước vào tình trạng phục vụ khi đã có gia đình, thì gia đình cũng được ra đi với người ấy. Luật này phản ánh sự quan tâm của Đức Chúa Trời đến công lý và lòng thương xót đối với những người đang ở trong thân phận đầy tớ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:4-6 (VIE1934)
4 Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sanh được con trai hay gái, thì nó sẽ ra một mình, vợ và con thuộc về chủ.
5 Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được tự do,
6 thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Đức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người chủ đó trọn đời.
Nếu người chủ cưới vợ cho người đầy tớ và họ có con, người đầy tớ có thể ra đi sau sáu năm, nhưng người vợ và các con sẽ ở lại với người chủ. Tuy nhiên, nếu người đầy tớ tự nguyện lựa chọn ở lại vì yêu chủ, yêu vợ và các con, người ấy sẽ trải qua một nghi thức để bày tỏ cam kết phục vụ suốt đời. Điều này cho thấy luật pháp cho phép một người tự nguyện chọn sự phục vụ lâu dài, với điều kiện đó là quyết định của chính người ấy xuất phát từ tình yêu.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:7-8 (VIE1934)
7 Nếu ai bán con gái mình làm con đòi, con gái đó không được ra như các đầy tớ kia.
8 Nếu chủ trước đã ưng lấy con đòi làm hầu, rồi sau lại chẳng muốn, thì chủ phải biểu chuộc nàng lại, chớ không có phép gạt, rồi đem bán nàng cho kẻ ngoại bang.
Luật pháp đề cập đến trường hợp một người cha, vì nghèo khó, có thể bán con gái mình làm con đòi, thường với mong đợi rằng cô sẽ trở thành vợ hoặc hầu thiếp. Không giống những đầy tớ nam được tự do sau sáu năm, những nữ đầy tớ không tự động được thả ra, phản ánh những vai trò xã hội khác nhau của họ. Nếu người chủ quyết định không cưới nàng, ông phải cho gia đình nàng chuộc nàng lại và bị cấm bán nàng cho người ngoại bang, vì điều đó sẽ phá vỡ thỏa thuận ban đầu. Luật này nhằm bảo vệ phẩm giá và quyền lợi của những người nữ đang ở trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương, nhấn mạnh sự công bằng và công lý ngay cả trong những thỏa thuận xã hội khó khăn như vậy.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:9-11 (VIE1934)
9 Nhưng nếu chủ định để cho con trai mình, thì phải xử với nàng theo phép như con gái mình vậy.
10 Nếu chủ có lấy người khác, thì đối với người thứ nhất chẳng được phép giảm đồ ăn, đồ mặc, và tình nghĩa vợ chồng chút nào.
11 Nếu người chủ không làm theo ba điều nầy, nàng được phép ra không, chẳng phải thối tiền lại.
Những câu này đưa ra thêm sự bảo vệ cho một nữ đầy tớ đã được hứa gả cho con trai của người chủ. Nàng phải được đối xử với những quyền và phẩm giá như một con dâu. Ngay cả khi người con trai lấy một người vợ khác, những quyền căn bản của nàng về thức ăn, quần áo và tình nghĩa vợ chồng vẫn phải được duy trì. Nếu người chồng không thực hiện những nghĩa vụ này, nàng phải được tự do. Điều này phản ánh sự quan tâm đến công lý và sự công bằng trong hôn nhân.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:12-14 (VIE1934)
12 Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử.
13 Nhưng bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng vì Đức Chúa Trời đã phú người bị giết vào tay kẻ đó, thì ta sẽ lập cho người một chỗ đặng kẻ giết người ẩn thân.
14 Còn như bằng kẻ nào dấy lên cùng người lân cận mà lập mưu giết người, thì dầu rằng nó núp nơi bàn thờ ta, người cũng bắt mà giết đi.
Những câu này đề cập đến vấn đề giết người. Giết người có chủ ý bị xử tử, phản ánh tính thiêng liêng của sự sống. Tuy nhiên, nếu cái chết xảy ra ngoài ý muốn và không có sự mưu tính trước, người gây ra cái chết có thể chạy đến một nơi trú ẩn được chỉ định. Sự phân biệt giữa giết người cố ý và giết người vô ý phản ánh công lý của Đức Chúa Trời đồng thời cho thấy sự chu cấp của Ngài cho lòng thương xót trong những trường hợp không có chủ ý.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:15-17 (VIE1934)
15 Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.
16 Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử.
17 Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.
Những luật này nhấn mạnh sự tôn trọng đối với thẩm quyền của cha mẹ và tính thiêng liêng của mối quan hệ gia đình. Đánh hoặc mắng cha mẹ bị xem là một hành vi nghiêm trọng đáng chịu án chết. Bắt cóc người khác, dù để bán làm đầy tớ hay vì mục đích khác, cũng bị xử tử. Những hình phạt nghiêm khắc này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tôn trọng và công lý trong cộng đồng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:18-19 (VIE1934)
18 Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, không đến đỗi phải chết, nhưng phải nằm liệt giường,
19 nếu đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được, người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền thiệt hại trong mấy ngày người ấy nuôi cho đến khi lành mạnh.
Trong những trường hợp đánh nhau gây thương tích nhưng không dẫn đến cái chết, người gây thương tích phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thương về thời gian bị mất và chăm sóc người ấy cho đến khi lành mạnh. Luật này bảo đảm sự công bằng và trách nhiệm trong những trường hợp gây thương tích cá nhân, nhấn mạnh việc phục hồi và bồi thường thay vì trả thù.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:20-21 (VIE1934)
20 Khi người chủ lấy gậy đánh đầy tớ trai hay gái mình và chết liền theo tay, thì chắc phải bị phạt.
21 Song nếu đầy tớ trai hay gái còn sống một hai ngày, người chủ khỏi tội, vì nó vốn là tài sản của chủ.
Luật này bảo vệ đầy tớ khỏi sự bạo hành quá mức của chủ. Nếu một đầy tớ chết ngay vì bị đánh, người chủ phải bị phạt. Tuy nhiên, nếu đầy tớ còn sống một hoặc hai ngày sau đó, người chủ không bị phạt, vì người đầy tớ được xem là tài sản của chủ. Mặc dù luật này không bảo vệ đầy đủ quyền của đầy tớ theo tiêu chuẩn đạo đức hiện đại, nó vẫn đặt ra một mức trách nhiệm nhất định đối với người chủ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:22-25 (VIE1934)
22 Nếu người ta đánh nhau, đụng nhằm một người đàn bà có thai, làm cho phải sảo, nhưng chẳng bị sự hại chi khác, thì kẻ đánh nhằm đó phải bồi thường theo lời chồng người sẽ định, và trả tiền trước mặt quan án.
23 Còn nếu có sự hại chi, thì ngươi sẽ lấy mạng thường mạng,
24 lấy mắt thường mắt, lấy răng thường răng, lấy tay thường tay, lấy chân thường chân,
25 lấy phỏng thường phỏng, lấy bầm thường bầm, lấy thương thường thương.
Trong trường hợp này, nếu những người đang đánh nhau vô tình làm một phụ nữ có thai phải sinh non nhưng không xảy ra thương tích nghiêm trọng nào khác, người gây ra sự việc phải trả một khoản bồi thường. Tuy nhiên, nếu có thương tích xảy ra—dù đối với người phụ nữ hay đứa trẻ—thì phải có một hình phạt tương xứng theo nguyên tắc “mạng thường mạng, mắt thường mắt, răng thường răng.” Luật này nhấn mạnh giá trị của sự sống và nhu cầu phải có sự bồi thường công bằng khi xảy ra thương tích.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:26-27 (VIE1934)
26 Nếu ai đánh nhằm con mắt đầy tớ trai hay gái mình, làm cho mất đi, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất con mắt.
27 Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai hay gái mình, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất một răng.
Nếu một người chủ gây thương tích vĩnh viễn cho một đầy tớ, chẳng hạn làm mất một con mắt hoặc làm rụng một chiếc răng, người đầy tớ phải được tự do như một sự bồi thường cho thương tích. Luật này tạo ra sự cân bằng giữa thẩm quyền của người chủ và quyền lợi của người đầy tớ, đem lại sự công bằng và sự bảo vệ cho những người dễ bị tổn thương.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:28-32 (VIE1934)
28 Ví có một con bò báng nhằm một người đàn ông hay đàn bà phải chết đi, con bò sẽ bị ném đá chết, người ta không nên ăn thịt nó; còn người chủ bò sẽ được vô tội.
29 Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa.
30 Nhược bằng người ta định giá cho chủ bò chuộc mạng, chủ phải chuộc mạng mình y như giá đã định.
31 Nếu bò báng nhằm một đứa con trai hay là con gái, người ta cũng sẽ chiếu theo luật nầy.
32 Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai hay gái, chủ bò phải trả ba chục siếc-lơ bạc cho chủ nó; rồi bò sẽ bị ném đá chết.
Những câu này quy định trách nhiệm khi súc vật gây thương tích hoặc giết người. Nếu một con bò giết người, con bò phải bị xử chết, nhưng người chủ không bị xem là có tội nếu trước đó không biết con bò có tính hung dữ. Tuy nhiên, nếu người chủ biết con bò đã từng có tật hay húc mà vẫn không cầm giữ nó, sự cẩu thả của người chủ sẽ bị xử phạt bằng án chết, mặc dù trong một số trường hợp người ấy có thể chuộc mạng bằng tiền. Nếu nạn nhân là một đầy tớ, chủ bò phải trả tiền bồi thường cho chủ của người đầy tớ. Luật này nhấn mạnh cả trách nhiệm cá nhân lẫn công lý.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21:33-36 (VIE1934)
33 Nếu ai mở miệng hầm hay là đào hầm mà chẳng đậy lại, và nếu có bò hay là lừa té xuống đó,
34 chủ hầm sẽ bồi thường giá tiền cho chủ của súc vật, nhưng súc vật bị giết đó sẽ về phần mình.
35 Bằng bò của ai báng nhằm bò của kẻ lân cận mình phải chết đi, hai người hãy bán bò sống đó, chia tiền và chia luôn con bò chết nữa.
36 Nếu người chủ đã tỏ tường trước rằng bò mình có tật hay báng, mà không lo cầm giữ, chủ phải lấy bò thường bò, nhưng bò chết sẽ về phần người.
Những câu này đề cập đến thiệt hại tài sản và sự cẩu thả. Nếu một người đào một cái hầm nhưng không đậy lại, khiến một con vật rơi xuống đó và chết, người chịu trách nhiệm về cái hầm phải bồi thường cho chủ của con vật. Tương tự, nếu một con bò giết một con bò khác, con bò còn sống và giá trị của nó sẽ được chia giữa hai bên, trừ khi có sự cẩu thả trong việc cầm giữ một con vật vốn đã được biết là hung dữ. Những luật này nhấn mạnh tầm quan trọng của trách nhiệm cá nhân và sự công bằng trong việc giải quyết các tranh chấp.

